KhanCung.comKhấn Cúng
Văn khấn theo vòng đời: con trẻ, cưới hỏi, mừng thọ

Văn khấn lễ ăn hỏi: lời khấn nhà trai trước khi đi, nhà gái khi nhận lễ đặt bàn thờ

Lễ ăn hỏi có hai lời khấn: nhà trai báo tổ tiên trước khi mang lễ đi, nhà gái khấn khi đặt lễ lên bàn thờ. Bố cục, khung lời khấn, chỗ điền, khấn nôm.

Round red lacquer trays covered with red cloth on a wooden table inside a family home in Hai Phong, a man in a dark suit seen from behind bowing at the altar

Lễ ăn hỏi thường có hai lời khấn: nhà trai thắp hương ở nhà mình báo tổ tiên trước khi mang lễ sang nhà gái, và nhà gái khấn khi đặt lễ vật nhà trai lên bàn thờ, báo rằng con gái đã nhận lời. Lời khấn ở nhà gái là lời quan trọng hơn, vì đọc trước mặt cả hai họ.

Bài này đưa bố cục từng lời khấn, khung câu theo khuôn văn khấn gia tiên phổ biến, những chỗ cần điền và bản khấn nôm. Cách đặt tráp lên bàn thờ, ai đứng đâu, lễ vật gồm những gì có bài riêng ở chuyên mục lễ cúng; tráp và mâm quả có chuyên đề riêng. Lời khấn dạm ngõ (chạm ngõ) cũng được nhắc ngắn ở cuối bài, vì khung rất gần.

Lễ ăn hỏi trong nếp cưới và lúc nào khấn

Ăn hỏi, còn gọi là đám hỏi hay lễ đính hôn, là bước nhà trai mang sính lễ sang nhà gái để chính thức hỏi cưới. Sau lễ này, theo nếp xưa, cô gái được coi là "vợ sắp cưới" của nhà kia. Ngày nay nhiều nơi làm ăn hỏi cách ngày cưới vài tuần, có nhà làm cùng ngày hoặc trước một ngày cho gọn.

Lời khấn đầu tiên diễn ra ở nhà trai, trước giờ xuất phát. Bố chú rể hoặc người trưởng họ thắp hương, báo tổ tiên hôm nay nhà mang lễ sang hỏi vợ cho con. Lời khấn này ngắn, thường chỉ vài câu, vì đoàn nhà trai đã sẵn sàng ở cửa.

Lời khấn thứ hai ở nhà gái, sau khi hai bên chào hỏi, nhà gái nhận lễ. Bố mẹ cô dâu (hoặc người được nhà gái cử) đặt một phần lễ vật lên bàn thờ, thắp hương, khấn báo tổ tiên. Ở nhiều nơi, đại diện nhà trai được mời thắp một nén sau đó, rồi cô dâu chú rể cùng thắp hương ra mắt.

Như vậy trong một buổi ăn hỏi có thể có bốn người thắp hương trước bàn thờ nhà gái, nhưng chỉ người đầu tiên đọc lời khấn đầy đủ. Những người sau thường khấn thầm vài câu hoặc chỉ vái.

Ai khấn, khấn ở đâu, nói gì

Bảng dưới gom các lượt thắp hương thường gặp trong lễ ăn hỏi theo nếp miền Bắc; miền Trung, miền Nam có thể khác thứ tự:

LượtỞ đâuNgười khấnÝ chính của lời khấn
1Bàn thờ nhà trai, trước khi điBố chú rể hoặc trưởng họBáo hôm nay mang lễ sang hỏi vợ cho con, xin tổ tiên phù hộ việc thuận lợi
2Bàn thờ nhà gái, sau khi nhận lễBố hoặc mẹ cô dâuBáo nhà trai đã sang hỏi, con gái nhận lời, xin tổ tiên chứng giám
3Bàn thờ nhà gáiĐại diện nhà traiKính chào tổ tiên nhà thông gia, khấn thầm ngắn
4Bàn thờ nhà gáiCô dâu, chú rểRa mắt tổ tiên, khấn thầm hoặc chỉ vái

Lượt 3 không có ở mọi nhà. Có nơi coi việc khách thắp hương bàn thờ nhà người là phải xin phép trước, nên chủ nhà mời thì mới thắp. Đại diện nhà trai cứ chờ lời mời.

Ở nhiều nhà miền Nam, hai họ cùng đứng trước bàn thờ, người đại diện nhà gái khấn, sau đó đôi trẻ thắp hương và trao nữ trang trước bàn thờ. Lời khấn của người đại diện vẫn theo cùng khung.

Khung lời khấn của nhà trai trước khi đi

Lời khấn nhà trai ngắn, đọc trước bàn thờ của mình. Khung thường dùng, dựng trên khuôn văn khấn gia tiên:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
Con cháu thành tâm thắp nén hương, kính cáo tổ tiên: hôm nay gia đình con sang nhà ông bà (…) ở (địa chỉ nhà gái), làm lễ ăn hỏi cô (họ tên cô dâu) cho con trai con là (họ tên chú rể).
Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho việc lễ được thuận lợi, hai họ vui vẻ.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Nếu ngày ăn hỏi trùng ngày cưới, nhà trai thường gộp lời này vào lời khấn trước khi đi rước dâu, nói chung "hôm nay gia đình con sang làm lễ ăn hỏi và rước dâu".

Người đứng khấn ở nhà trai thường cũng là người dẫn đầu đoàn sang nhà gái, nên lời khấn càng gọn càng tốt. Chú rể đứng sau vái theo. Những người trong đoàn bê tráp không cần vào thắp hương; họ đứng chờ ở sân để đoàn đi đúng giờ đã hẹn với nhà gái.

Khung lời khấn của nhà gái khi đặt lễ lên bàn thờ

Sau khi nhận lễ, nhà gái mở tráp, lấy một phần lễ vật (thường là trầu cau, rượu, bánh, có nhà đặt nguyên một tráp) đặt lên bàn thờ. Người khấn đứng giữa, hai họ đứng hai bên hoặc phía sau. Khung lời khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
Con cháu kính cáo tổ tiên: hôm nay nhà ông bà (…) ở (địa chỉ nhà trai) đã mang lễ sang hỏi cháu (họ tên cô dâu) làm vợ cho con trai là (họ tên chú rể). Gia đình con đã nhận lễ, xin dâng lên tổ tiên.
Cúi xin tổ tiên chứng giám cho hai cháu nên duyên, phù hộ cho hai họ thuận hoà, đôi trẻ yêu thương nhau.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Câu "đã nhận lễ" quan trọng, vì nó cho cả hai họ nghe rằng nhà gái chính thức đồng ý. Ở một số nhà, người khấn đọc to rõ chính vì lý do này, khác hẳn những lần khấn thầm ngày thường.

Chỗ điền và mấy chữ cần hiểu

Sính lễ. Lễ vật nhà trai mang sang hỏi cưới. Lời khấn có khi đọc "đã mang sính lễ sang" thay cho "mang lễ sang".

Nên duyên. Thành vợ chồng. Có bản đọc "kết duyên", "se duyên"; nghĩa như nhau.

Tên ông bà thông gia. Đọc đúng họ tên bố mẹ chú rể (với nhà gái) hoặc cô dâu (với nhà trai). Ghi sẵn ra giấy là cách chắc nhất.

Địa chỉ nhà bên kia. Đọc theo tên mới sau sắp xếp hành chính 2025. Ví dụ giả định: "ở xã (…), tỉnh Nghệ An".

Ngày âm lịch. Đọc ngày âm của hôm ăn hỏi. Nếu ăn hỏi diễn ra sau giao thừa vài ngày, chú ý đọc năm âm mới. Ví dụ giả định: lễ ngày 14/2/2027 dương lịch rơi vào mùng 9 tháng Giêng năm Đinh Mùi.

Họ của gia tiên. Nhà gái khấn ở bàn thờ họ mình thì đọc họ của bố cô dâu. Nếu lễ làm ở nhà ngoại vì bố mẹ cô dâu ở nhờ hoặc ở xa, họ đọc theo bàn thờ đang thắp hương, không theo họ của cô dâu.

Tên đôi trẻ. Đọc họ tên đầy đủ, đúng như giấy tờ. Tên ở nhà nghe thân mật nhưng dễ khiến người bên kia không biết đang nói tới ai; nếu muốn, đọc tên đầy đủ trước rồi thêm tên thường gọi.

Những tình huống khiến người khấn lúng túng

Bố cô dâu không quen khấn. Nhiều ông bố chưa bao giờ đọc văn khấn trước đông người. Cách gọn là nhờ một người trong họ quen việc khấn thay, đọc rõ "thay mặt anh chị (…)", còn bố mẹ cô dâu đứng ngay sau, thắp hương và vái. Không ai coi đó là thiếu lễ.

Nhà gái không có bàn thờ gia tiên. Bố mẹ cô dâu ở nhà thuê, bàn thờ chính ở quê, thì nhiều nhà đặt lễ lên một bàn trang trọng, thắp hương ở bàn thờ nhỏ nếu có, hoặc về quê làm lễ ăn hỏi. Lời khấn đọc ở nơi nào thì địa chỉ đọc theo nơi đó.

Hai họ nói khác giọng, khác vùng. Người khấn cứ đọc theo giọng và cách nói của mình. Lời khấn hướng về tổ tiên nhà mình, không cần nói cho vừa tai bên kia. Nếu có chữ nào hai nhà gọi khác, như "đám hỏi" và "ăn hỏi", cứ dùng chữ quen của nhà.

Đông người, ồn, trẻ con chạy quanh. Trước khi khấn, người dẫn lễ hoặc một người trong nhà xin mọi người yên lặng một chút. Lời khấn chỉ khoảng hai phút; giữ được sự yên lặng ấy là phần lễ mà khách nào cũng hiểu.

Lỡ đọc sai tên hoặc quên một đoạn. Dừng lại, đọc lại câu đúng rồi đọc tiếp. Không cần thắp lại hương, không cần khấn lại từ đầu. Lời khấn là lời thưa của con cháu, đọc vấp không làm mất ý.

Bản khấn nôm và lời dạm ngõ

Bản nôm dùng được khi người đứng khấn không quen văn cổ, hoặc khi nhà muốn lời thật gần gũi:

  • Nhà trai trước khi đi: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay ngày (…) âm lịch, gia đình con sang nhà ông bà (…) hỏi cô (tên) cho con trai con là (tên). Xin ông bà phù hộ cho việc lễ được suôn sẻ. Con xin cảm tạ."
  • Nhà gái khi nhận lễ: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay nhà ông bà (…) mang lễ sang hỏi cháu (tên) cho con trai là (tên). Gia đình con đã nhận lễ, xin thưa để ông bà biết, xin ông bà phù hộ cho hai cháu nên duyên, hai nhà thuận hoà. Con xin cảm tạ."
  • Dạm ngõ (chạm ngõ): khung giống lời nhà gái, chỉ đổi phần trình việc thành "hôm nay nhà ông bà (…) sang thăm, ngỏ lời cho hai cháu (tên) và (tên) được qua lại tìm hiểu". Lễ dạm ngõ nhỏ, nhiều nhà chỉ khấn nôm.

Cô dâu, chú rể thắp hương ra mắt thì khấn thầm vài câu: "Con là (tên), xin ra mắt ông bà. Mong ông bà phù hộ cho hai con." Không cần đọc dài.

Câu hỏi thường gặp

Lễ ăn hỏi bên nào cần đọc văn khấn đầy đủ?

Thường là nhà gái, vì lời khấn đọc khi đặt lễ nhà trai lên bàn thờ trước mặt hai họ. Nhà trai khấn ngắn ở nhà mình trước khi đi. Nhiều nhà gái chỉ khấn nôm, không đọc văn, vẫn trọn ý.

Đại diện nhà trai có được tự ý thắp hương ở nhà gái không?

Theo phép lịch sự, nên chờ chủ nhà mời. Khi được mời, người đại diện thắp một nén, khấn thầm vài câu chào tổ tiên nhà thông gia, không cần đọc văn. Nhà gái không mời thì không thắp cũng không sao.

Văn khấn lễ ăn hỏi có cần đọc số tráp không?

Không cần. Số tráp, số lễ là phần lễ vật, nằm ở tục chứ không ở lời khấn. Lời khấn chỉ báo việc nhà trai đã mang lễ sang và nhà gái đã nhận.

Ăn hỏi và cưới cùng một ngày thì khấn mấy lần?

Nhiều nhà gộp làm một: nhà gái đọc một lời khấn gồm cả việc nhận lễ ăn hỏi và cho con gái về nhà chồng. Nhà trai cũng khấn một lần trước khi đi. Gộp như vậy gọn mà vẫn đủ ý.

Nhà gái theo đạo khác thì lễ ăn hỏi khấn thế nào?

Nếu nhà gái không thờ cúng theo cách thắp hương, phần đặt lễ lên bàn thờ có thể thay bằng nghi thức của gia đình ấy. Nhà trai vẫn khấn ở nhà mình trước khi đi. Hai nhà thống nhất trước để buổi lễ êm.

Ai mở tráp lấy lễ đặt lên bàn thờ?

Thường là mẹ cô dâu hoặc người phụ nữ lớn tuổi bên nhà gái, có nơi là chính cô dâu. Đây là phần tục, mỗi nhà một nếp. Lời khấn chỉ bắt đầu sau khi lễ đã đặt xong.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183