KhanCung.comKhấn Cúng
Văn khấn theo vòng đời: con trẻ, cưới hỏi, mừng thọ

Văn khấn báo gia tiên trước ngày cưới: lời khấn của nhà trai, nhà gái và khấn nôm

Trước ngày cưới, mỗi nhà thắp hương báo tổ tiên con sắp thành gia thất. Bố cục lời khấn nhà trai, nhà gái, chỗ điền tên hai bên và bản khấn nôm.

Evening in a tiled-roof house in Bac Ninh, an older man seen from behind lighting incense at the ancestral altar, a young couple standing quietly behind him with joined hands, soft lamp light

Lời báo gia tiên trước ngày cưới là lời con cháu thưa với tổ tiên rằng trong nhà sắp có người thành gia thất: tên cô dâu chú rể, con nhà ai, ở đâu, ngày nào làm lễ, và xin tổ tiên chứng giám. Nhà trai và nhà gái thường làm riêng ở bàn thờ của mình, vào chiều hoặc tối hôm trước ngày cưới, có nhà làm sớm hơn vài ngày.

Bài này đưa bố cục lời khấn cho từng nhà, khung câu dựng trên khuôn văn khấn gia tiên phổ biến, những chỗ cần điền mà người khấn hay vấp và một bản khấn nôm. Mâm lễ báo gia tiên, ai đứng lễ theo nếp từng vùng có bài riêng ở chuyên mục lễ cúng. Các lời khấn trong lễ ăn hỏi, xin dâu, rước dâu và lễ tơ hồng nằm ở những bài khác cùng chuyên mục này.

Vì sao báo gia tiên trước, không đợi ngày cưới

Trong nếp nhà của người Việt, việc cưới là việc của hai họ chứ không riêng hai người. Ngày cưới, bàn thờ là nơi nhà trai, nhà gái làm lễ trước mặt nhau. Lời báo gia tiên hôm trước giống như một lần thưa riêng trong nhà: con cháu tự đứng trước tổ tiên, nói cho đủ việc, để ngày hôm sau chỉ còn phần lễ chung.

Một lý do thực tế khác là ngày cưới rất bận. Người đứng khấn ở nhà trai phải lo đoàn rước dâu, người ở nhà gái phải lo đón khách. Thắp hương báo trước một ngày cho phép đọc lời khấn chậm, đủ, có cả cô dâu hoặc chú rể đứng bên.

Lời báo này cũng là dịp nhắc lại tên người đã khuất gần nhất trong nhà. Nhiều gia đình thêm một câu riêng thưa với ông hoặc bà vừa mất vài năm, những người lẽ ra được ngồi ở mâm cưới. Câu ấy không có trong sách, là lời tự nhiên của con cháu, nhà nào muốn thì thêm.

Không phải nhà nào cũng làm lễ này riêng. Có nhà gộp vào lời khấn sáng ngày cưới, có nhà chỉ thắp hương mà không đọc văn. Ở những nhà giữ nếp, lời báo trước ngày cưới thường được coi trọng không kém lời khấn ngày rước dâu.

Lời khấn của nhà trai và nhà gái khác nhau ở đâu

Khung chung giống nhau; khác biệt nằm ở phần trình việc. Bảng dưới gom những khác biệt thường gặp:

Phần lời khấnNhà traiNhà gái
Người thường đứng khấnBố chú rể hoặc ông nội, trưởng họBố cô dâu hoặc ông nội
Câu trình việcCon trai (tên) sắp cưới vợ là (tên cô dâu), con ông bà (…)Con gái (tên) sắp xuất giá, về làm dâu nhà ông bà (…)
Câu xinXin tổ tiên đón nhận cháu dâu mới vào họXin tổ tiên chứng giám, cho con gái đi lấy chồng được thuận hoà
Người đứng sauChú rể đứng sau người khấn, vái theoCô dâu đứng sau người khấn, vái theo
Thời điểmChiều, tối trước ngày cưới; có nhà khấn lại sáng sớm trước khi đi rước dâuChiều, tối trước ngày cưới, hoặc trước lễ xin dâu

Chữ "xuất giá" là đi lấy chồng; "thành gia thất" là lập gia đình, dùng được cho cả hai bên. Nhiều nhà gái tránh chữ "gả" vì nghe giống trao đi, thay bằng "cho con gái về làm dâu nhà (…)" nghe mềm hơn.

Cưới ở thành phố, hai nhà ở xa nhau, nhiều khi nhà gái làm lễ báo gia tiên ở quê còn tiệc cưới ở thành phố. Lời khấn vẫn đọc địa chỉ nơi có bàn thờ, nơi đang thắp hương.

Khung lời khấn của nhà trai

Khung dưới đây đi theo khuôn văn khấn gia tiên phổ biến. Câu chữ có thể khác giữa các nhà; chữ trong ngoặc là phần điền:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
Con cháu thành tâm sắm lễ, thắp nén hương thơm kính cáo tổ tiên: con trai con là (họ tên chú rể) đã đến tuổi thành gia thất, nay kết duyên cùng (họ tên cô dâu), con gái ông (…) và bà (…), ngụ tại (địa chỉ nhà gái).
Ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, gia đình con sẽ làm lễ đón dâu về nhà.
Cúi xin tổ tiên chứng giám, đón nhận cháu dâu mới, phù hộ cho đôi trẻ trăm năm hoà thuận, cả họ mạnh khoẻ bình an.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Câu "đến tuổi thành gia thất" là cách nói quen, nghĩa là đến tuổi lập gia đình. Câu "trăm năm hoà thuận" có nhà đọc "bách niên giai lão", cùng một ý: sống với nhau đến già. Nếu bố mẹ chú rể đứng khấn, phần xưng danh đọc tên bố hoặc mẹ; nếu ông nội khấn, phần trình việc đổi thành "cháu nội con là (…)".

Khung lời khấn của nhà gái

Lời khấn nhà gái thường mềm hơn, có ý cảm tạ tổ tiên đã che chở cho con gái đến ngày khôn lớn. Khung thường dùng:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
Con cháu thành tâm sắm lễ, kính cáo tổ tiên: con gái con là (họ tên cô dâu) nay kết duyên cùng (họ tên chú rể), con trai ông (…) và bà (…), ngụ tại (địa chỉ nhà trai).
Ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, nhà trai sẽ sang làm lễ xin dâu, đón cháu về làm dâu họ (…).
Con cháu xin cảm tạ tổ tiên đã che chở cho cháu đến ngày khôn lớn. Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho cháu về nhà chồng được thuận hoà, hiếu thảo, đôi trẻ yên ấm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Ở nhiều nhà, mẹ cô dâu là người đứng khấn khi bố đã mất hoặc ở xa. Khi đó phần xưng danh đọc tên mẹ; lời khấn không cần sửa gì khác.

Những chỗ cần điền mà người khấn hay vấp

Tên bố mẹ bên kia. Hỏi trước, ghi đúng họ tên ông bà thông gia. Đọc "con gái ông bà (…)" mà quên tên là chỗ hụt dễ thấy nhất. Bố hoặc mẹ bên kia đã mất thì đọc "con gái cố (…)" hoặc chỉ đọc tên người còn sống, theo cách hai nhà đã thống nhất.

Địa chỉ nhà bên kia. Đọc theo tên đơn vị hành chính mới, không còn cấp huyện. Ví dụ giả định: "ngụ tại phường (…), thành phố Đà Nẵng", "ngụ tại xã (…), tỉnh Quảng Ngãi".

Ngày cưới. Đọc ngày âm lịch của ngày làm lễ cưới chính, tức ngày rước dâu. Nếu lễ ăn hỏi và lễ cưới làm chung một ngày, đọc một ngày là đủ, kèm câu "làm lễ ăn hỏi và lễ cưới".

Người đứng khấn khác người được báo. Ông nội khấn thì gọi chú rể là "cháu nội"; anh trưởng khấn thay bố mẹ đã mất thì gọi là "em trai con". Sửa từ xưng hô cho khớp vai vế, các phần khác giữ nguyên.

Con riêng, tái hôn. Lời khấn chỉ cần đọc đúng việc: "con con là (…) nay kết duyên cùng (…)". Không cần nhắc chuyện đã qua; mỗi nhà thưa với tổ tiên theo cách mình thấy phải.

Bản khấn nôm trước ngày cưới

Bản nôm dưới đây hợp với nhà ít khấn, hoặc khi chính chú rể, cô dâu muốn tự thắp hương báo ông bà:

  • Nhà trai: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Con là (họ tên), ở (địa chỉ). Hôm nay ngày (…) tháng (…) âm lịch, con xin thưa: ngày (…) tháng (…) âm lịch, con trai con là (tên) sẽ cưới (tên cô dâu), con gái ông bà (…) ở (địa chỉ). Xin ông bà đón nhận cháu dâu mới, phù hộ cho hai cháu hoà thuận, yêu thương nhau. Con xin cảm tạ."
  • Nhà gái: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay con xin thưa: con gái con là (tên) sắp về làm dâu nhà (…). Cảm ơn ông bà đã che chở cho cháu tới ngày khôn lớn. Xin ông bà phù hộ cho cháu sống thuận hoà bên nhà chồng. Con xin cảm tạ."
  • Chú rể hoặc cô dâu tự khấn: "Con lạy ông bà. Con là (tên), ngày (…) con sẽ lập gia đình cùng (tên). Con xin thưa để ông bà biết, mong ông bà phù hộ cho hai con."

Nhiều bạn trẻ thấy bản nôm tự nói dễ xúc động hơn bản văn cổ. Không có gì sai khi khấn bằng lời giản dị, nhất là ở bàn thờ có ảnh ông bà mình từng quen biết.

Hai nhà khác nếp, khác vùng, khác tín ngưỡng

Cưới khác vùng là chuyện thường. Nhà trai ở Nghệ An có thể quen làm lễ báo vào sáng sớm ngày cưới, nhà gái ở Cần Thơ quen thắp hương tối hôm trước. Mỗi nhà làm theo nếp của nhà mình ở bàn thờ nhà mình; lời khấn không cần thống nhất giữa hai bên.

Nếu một bên theo Công giáo hoặc đạo khác, bên ấy có thể không làm lễ báo gia tiên theo cách thắp hương. Lời khấn của bên còn lại vẫn đọc đúng tên và cha mẹ của người kia, không cần thêm lời nào về chuyện khác đạo. Hai nhà tôn trọng nếp của nhau là đủ.

Khi bố mẹ ở xa không về được, người trong họ (chú, bác, anh cả) có thể đứng khấn thay, đọc rõ "thay mặt anh chị (…)". Còn nếu chính đôi trẻ cưới ở nước ngoài, lời báo có thể nhờ người nhà thắp hương ở quê, hoặc tự thắp một nén ở nơi đang sống và khấn nôm. Phần đọc địa chỉ và ngày âm lịch cho trường hợp ở nước ngoài có bài riêng trong chuyên mục điền văn khấn.

Câu hỏi thường gặp

Lễ báo gia tiên trước ngày cưới nên làm vào hôm nào?

Nhiều nhà làm vào chiều hoặc tối hôm trước ngày cưới, có nhà làm sớm hơn vài ngày, có nhà khấn ngay sáng ngày cưới trước khi rước dâu. Chọn ngày giờ cụ thể là chuyện nếp nhà hoặc xem ngày; lời khấn dùng được cho mọi thời điểm.

Cô dâu, chú rể có phải đứng khấn không?

Thường không. Người đứng khấn là bố, ông hoặc người trưởng trong nhà; cô dâu hoặc chú rể đứng sau vái theo. Nhà ít người hoặc bố mẹ ở xa thì chính chú rể, cô dâu khấn nôm cũng được, không có gì sai nếp.

Văn khấn báo gia tiên trước cưới có cần đọc giờ rước dâu không?

Không cần. Lời khấn chỉ cần ngày âm lịch làm lễ cưới. Có nhà đọc thêm giờ đón dâu theo thói quen, nhưng giờ giấc ngày cưới hay thay đổi, nên đọc ngày là đủ và gọn hơn.

Cưới lần hai có cần lễ báo gia tiên không?

Tuỳ nếp nhà. Nhiều gia đình vẫn thắp hương báo tổ tiên vì đó là việc lớn trong nhà, lời khấn giữ khung như lần đầu và chỉ đọc đúng tên hai người. Không cần nhắc chuyện cũ trong lời khấn.

Nhà gái có cần đọc tên bố mẹ chú rể trong lời khấn không?

Nên đọc. Câu "con trai ông bà (…), ở (…)" giúp lời báo rõ ràng, đúng với tinh thần hai họ kết thông gia. Nếu chưa biết đủ họ tên ông bà bên kia, hỏi trước để ghi vào tờ khấn.

Người trong nhà đang có tang thì báo gia tiên trước cưới thế nào?

Mỗi vùng có nếp riêng về cưới trong thời gian để tang, có nơi hoãn, có nơi làm gọn. Nếu vẫn cưới, nhiều nhà thêm một câu thưa với người mới mất trong lời khấn. Cách làm cụ thể nên hỏi người lớn trong họ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183