KhanCung.comKhấn Cúng
Văn khấn theo vòng đời: con trẻ, cưới hỏi, mừng thọ

Văn khấn ngày cưới: lễ xin dâu ở nhà gái, lễ đón dâu và ra mắt gia tiên nhà trai

Ngày cưới có ba lời khấn chính: nhà trai trước khi đi, nhà gái khi cho xin dâu, nhà trai khi cô dâu về ra mắt tổ tiên. Khung lời khấn và khấn nôm.

A bride in a red ao dai seen from behind walking slowly under a shared umbrella along a village lane in Hung Yen, guests in a loose line carrying covered trays, overcast morning

Ngày cưới thường có ba lời khấn: nhà trai khấn ở nhà mình trước giờ đi đón dâu, nhà gái khấn khi nhà trai sang xin dâu, và nhà trai khấn khi cô dâu về tới, đưa cô dâu ra mắt tổ tiên. Ba lời đều dựng trên khuôn văn khấn gia tiên, mỗi lời ngắn gọn để hợp nhịp một ngày rất bận.

Bài này đưa khung từng lời khấn, những chỗ cần điền và bản khấn nôm. Trình tự đứng, lễ vật, ai bê tráp có bài riêng ở chuyên mục lễ cúng; lễ tơ hồng có văn khấn riêng ở bài khác cùng chuyên mục. Lời báo gia tiên hôm trước ngày cưới và lời khấn lễ lại mặt sau cưới cũng có bài riêng.

Ba lời khấn trong ngày cưới

Ba lời khấn đi theo nhịp của đoàn rước dâu. Thứ tự dưới đây là phổ biến ở miền Bắc; các vùng khác có thể khác ở người đứng khấn và giờ giấc:

Thời điểmNơi khấnNgười khấnÝ chính
Trước giờ xuất phátBàn thờ nhà traiBố chú rể hoặc trưởng họBáo hôm nay đi đón dâu, xin tổ tiên phù hộ đường đi
Khi nhà trai tới nhà gái, sau lời xin dâuBàn thờ nhà gáiBố hoặc mẹ cô dâuBáo hôm nay cho con gái về nhà chồng, xin tổ tiên chứng giám
Khi cô dâu về tới nhà traiBàn thờ nhà traiBố mẹ chú rểBáo đã đón dâu về, xin tổ tiên nhận cháu dâu mới
Ngay sau đóBàn thờ nhà traiCô dâu, chú rểThắp hương ra mắt tổ tiên, khấn thầm ngắn

Lời khấn ở nhà gái có nơi gọi là lễ "xin dâu", có nơi gọi là lễ "gia tiên nhà gái". Tên gọi khác, ý giống nhau: con gái chính thức rời nhà bố mẹ.

Ở nhiều nơi miền Nam, lễ gia tiên nhà gái và lễ trao nữ trang diễn ra cùng lúc trước bàn thờ. Lời khấn của người đại diện nhà gái vẫn theo cùng khung, chỉ thêm việc trao lễ.

Ba lời khấn cách nhau chỉ vài giờ, nên phần xưng danh, ngày tháng gần như giống hệt. Chuẩn bị một tờ giấy chung cho cả nhà, mỗi lời một đoạn trình việc riêng, người đứng khấn chỉ cần lật đúng đoạn.

Cưới xa, cưới ở thành phố, cưới hai nơi

Nhà gái ở tỉnh xa, đón dâu bằng xe đường dài. Lời khấn trước khi đi của nhà trai có thể đọc từ sáng sớm, kèm câu xin cho đường xa bình an. Nhà gái cũng nên khấn trước khi nhà trai tới nếu biết giờ tới sẽ muộn, để lúc xin dâu chỉ còn vái và trao lễ.

Hai nhà cùng ở một thành phố. Nhịp ngày cưới nhanh hơn, ba lời khấn có khi cách nhau chưa tới hai giờ. Nên bỏ bớt phần niệm, đọc khung ngắn hoặc khấn nôm cho hợp.

Cưới một ngày ở quê, tiệc thêm một ngày ở thành phố. Lời khấn chỉ đọc ở ngày rước dâu thật, nơi có bàn thờ. Ngày tiệc ở thành phố không cần khấn lại, trừ khi bố mẹ đôi trẻ có bàn thờ ở đó và muốn thắp hương báo tin.

Đôi trẻ ở nước ngoài, về cưới ngắn ngày. Lễ vẫn theo khung trên. Nếu sau cưới đôi trẻ đi luôn, nhiều nhà gộp lời khấn lại mặt vào ngày hôm sau, nói rõ "các cháu sắp đi xa, xin về lại mặt sớm".

Nhà chỉ có mẹ đơn thân. Mẹ đứng khấn ở cả ba lời nếu là bên của mình. Phần xưng danh đọc tên mẹ, các phần khác giữ nguyên. Không có quy định nào buộc người khấn ngày cưới phải là đàn ông.

Khung lời khấn nhà trai trước giờ đi đón dâu

Lời khấn ngắn, đọc khi đoàn rước dâu đã sẵn sàng. Khung dựng trên khuôn văn khấn gia tiên phổ biến:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, là ngày lành gia đình con làm lễ thành hôn cho con trai là (họ tên chú rể) với (họ tên cô dâu), con gái ông (…) và bà (…).
Con cháu thành tâm thắp nén hương thơm, kính cáo tổ tiên, xin phép đi đón dâu về nhà.
Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho đường đi đường về bình an, việc lễ được trọn vẹn.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

"Thành hôn" là làm lễ cưới. Có bản đọc "làm lễ vu quy" cho nhà gái và "lễ thành hôn" cho nhà trai; đó là đúng chữ: "vu quy" là con gái về nhà chồng, dùng cho phía nhà gái. Nhà trai không dùng chữ "vu quy" cho con trai mình.

Khung lời khấn nhà gái khi cho xin dâu

Khi nhà trai tới, hai bên chào hỏi, đại diện nhà trai thưa xin đón dâu. Nhà gái mời lên bàn thờ, bố hoặc mẹ cô dâu thắp hương khấn. Khung thường dùng:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, là ngày vu quy của con gái con là (họ tên cô dâu).
Nhà ông bà (…) ở (địa chỉ nhà trai) đã sang xin đón cháu về làm dâu, làm vợ con trai là (họ tên chú rể).
Con cháu thành tâm sắm lễ, kính cáo tổ tiên, xin cho cháu được về nhà chồng.
Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho cháu thuận hoà bên nhà chồng, đôi trẻ trăm năm hạnh phúc.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Sau lời khấn, cô dâu chú rể thường cùng thắp hương, vái tổ tiên nhà gái, rồi lạy hoặc chào bố mẹ cô dâu tuỳ nếp. Phần này có thể có lời dặn dò của bố mẹ, không thuộc văn khấn.

Ở những nhà đã làm lễ báo gia tiên hôm trước, lời khấn lúc xin dâu có thể rút gọn còn phần trình việc và lời xin, vì tên tuổi đôi trẻ, tên ông bà thông gia đã thưa đủ từ tối hôm trước. Gọn như vậy cũng giúp đoàn nhà trai không phải đứng chờ lâu.

Khung lời khấn khi cô dâu về ra mắt gia tiên nhà trai

Đoàn về tới nhà trai, bố mẹ chú rể thắp hương báo tổ tiên đã đón dâu về. Lời khấn này mang ý "nhận người mới vào nhà", nên nhiều nhà coi là lời khấn trang trọng nhất của ngày cưới:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, gia đình con đã đón cháu (họ tên cô dâu), con gái ông bà (…), về làm vợ con trai con là (họ tên chú rể).
Con cháu kính cáo tổ tiên, xin cho cháu dâu được ra mắt, được nhận là con cháu trong họ (…).
Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho đôi trẻ yêu thương nhau, sớm có con cháu nối dõi, gia đạo yên vui.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Câu "sớm có con cháu nối dõi" là câu quen trong nhiều bản lưu hành, nhưng ngày nay không ít nhà bỏ đi hoặc đổi thành "sớm có tin vui", vì chuyện con cái là việc riêng của đôi trẻ. Nhà nào thấy hợp thì giữ.

Chữ khó và chỗ điền hay nhầm

Vu quy và thành hôn. Vu quy dùng cho nhà gái, nghĩa là con gái về nhà chồng; thành hôn, tân hôn dùng cho nhà trai. Đọc "lễ vu quy" ở nhà trai là nhầm hay gặp.

Cháu dâu. Gọi theo vai của người đứng khấn với tổ tiên: bố mẹ chú rể khấn thì cô dâu là "con dâu con", nhưng khi thưa với tổ tiên thì nhiều nhà gọi "cháu dâu". Hai cách đều có, chọn một cách và đọc thống nhất.

Ngày âm lịch. Đọc đúng ngày âm của hôm cưới. Cưới tháng Chạp mà lại mặt sang tháng Giêng thì năm âm ở hai lời khấn khác nhau.

Tên ông bà thông gia. Ghi sẵn trên giấy. Ngày cưới ồn ào, người khấn rất dễ quên tên bên kia đúng lúc đứng trước bàn thờ.

Địa chỉ nhà bên kia. Theo tên đơn vị hành chính mới. Ví dụ giả định: "ở phường (…), thành phố Hà Nội" hay "ở xã (…), tỉnh Thanh Hoá".

Bản khấn nôm cho ba lời khấn

Bản nôm dưới đây giữ đủ ý, đọc dưới một phút mỗi lời:

  • Nhà trai trước khi đi: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay ngày (…) âm lịch, gia đình con đi đón dâu cho con trai là (tên). Xin ông bà phù hộ đi về bình an, việc cưới trọn vẹn. Con xin cảm tạ."
  • Nhà gái khi cho xin dâu: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay con gái con là (tên) về nhà chồng, nhà ông bà (…) đã sang đón. Xin ông bà chứng giám, phù hộ cho cháu sống thuận hoà, hạnh phúc. Con xin cảm tạ."
  • Nhà trai khi dâu về: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay gia đình con đã đón (tên cô dâu) về làm vợ (tên chú rể). Xin ông bà nhận cháu dâu là con cháu trong nhà, phù hộ cho hai cháu yêu thương nhau. Con xin cảm tạ."
  • Cô dâu ra mắt: "Con là (tên), hôm nay về làm dâu họ (…). Con xin ra mắt ông bà, mong ông bà phù hộ cho hai con."

Giữa ngày cưới, không ai yêu cầu người khấn đọc thuộc. Cầm tờ giấy đọc chậm rãi, rõ ràng là đủ trang trọng.

Câu hỏi thường gặp

Cô dâu có phải lạy ở bàn thờ nhà trai không?

Tuỳ nếp. Có nhà để cô dâu chú rể vái ba vái, có nhà giữ tục lạy, có nhà chỉ cúi đầu. Nhà trai nên nói trước với cô dâu nếp nhà mình để cô dâu không lúng túng giữa đông người.

Văn khấn rước dâu có cần đọc giờ đón dâu không?

Không cần. Lời khấn đọc ngày âm lịch là đủ. Giờ đón dâu do hai nhà thống nhất từ trước và hay xê dịch theo đường xá, ghi vào lời khấn dễ thành không đúng.

Bố mẹ chú rể đều đã mất thì ai khấn khi dâu về?

Thường là ông bà nội nếu còn, hoặc chú bác, anh cả trong họ. Người khấn đọc rõ "thay mặt anh chị (…)" trong phần xưng danh. Nhiều nhà thêm một câu thưa với bố mẹ chú rể đã mất.

Đám cưới tổ chức ở nhà hàng thì lời khấn đọc ở đâu?

Lời khấn vẫn đọc ở bàn thờ hai nhà, trước khi đi nhà hàng. Tiệc ở nhà hàng không có phần khấn. Nhà ở chung cư có bàn thờ nhỏ cũng khấn ở đó như thường.

Có thể gộp lời khấn xin dâu và lời khấn tơ hồng không?

Không nên gộp, vì hai lời khấn hướng tới hai đối tượng khác nhau: một là tổ tiên, một là ông Tơ bà Nguyệt. Văn khấn lễ tơ hồng có bài riêng, thường làm ở nhà trai.

Cô dâu khác đạo có cần thắp hương ra mắt tổ tiên nhà chồng không?

Tuỳ hai gia đình thống nhất. Nhiều cô dâu theo Công giáo chọn cúi đầu chào trước bàn thờ thay cho thắp hương. Nhà trai tôn trọng lựa chọn đó thì buổi lễ vẫn trọn vẹn và êm ấm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183