Ở nhiều chùa miền Bắc, hai bên phía trước ban Tam bảo có hai ban thờ đối nhau: ban Đức Ông và ban Đức Thánh Hiền. Theo cách giải thích phổ biến, Đức Ông (còn gọi Đức Chúa Ông) là vị trông coi, hộ trì ngôi chùa, thường được kể là trưởng giả Cấp Cô Độc, người hiến vườn Kỳ Viên cho đức Phật; Đức Thánh Hiền được nhiều nơi cho là một vị đại đệ tử của Phật. Lời khấn ở hai ban này ngắn, mang ý xin phép và kính lễ.
Bài này nêu cách hiểu thường gặp về hai vị, bố cục lời khấn, một bản khấn theo khuôn sách và bản khấn nôm. Danh hiệu, tượng thờ và thứ tự lễ có khác nhau giữa các chùa; không phải chùa nào cũng có đủ hai ban. Khi chùa có bảng hướng dẫn hoặc nhà chùa dặn khác, theo nhà chùa.
Đức Ông là ai theo cách giải thích phổ biến
Câu chuyện hay được kể nhất là chuyện trưởng giả Tu Đạt ở thành Xá Vệ, vì hay giúp người nghèo không nơi nương tựa nên được gọi là Cấp Cô Độc, nghĩa là "cấp cho người cô độc". Theo kinh sách nhà Phật, ông muốn mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà để dựng tinh xá mời đức Phật về giảng pháp; thái tử ra điều kiện lát vàng kín mặt đất mới bán, và ông đã làm. Khu vườn ấy là Kỳ Viên, một trong những nơi đức Phật lưu lại lâu nhất.
Vì công dựng chùa và hộ trì tăng đoàn, ở nhiều chùa Việt ông được thờ như vị trông coi việc chùa, gọi tôn là Đức Ông hoặc Đức Chúa Ông. Một số sách và một số chùa gắn ban này với danh hiệu Già Lam (vị hộ trì chốn già lam, tức khuôn viên chùa); ở các chùa chịu ảnh hưởng người Hoa, vị hộ pháp già lam lại có hình tượng khác. Tên gọi trên ban, tượng thờ, câu đối không giống nhau giữa các nơi.
Vì có nhiều cách giải thích, bài khấn phổ thông chỉ cần gọi "Đức Ông", "Đức Chúa Ông" theo cách chùa đó gọi. Không nên tự thêm tước hiệu dài chép từ mạng mà không rõ nguồn; nếu muốn gọi đầy đủ, hỏi nhà chùa hoặc nhìn bài vị trên ban (nhiều chùa có ghi rõ). Người đi lễ quen gọi đơn giản là "Đức Ông" và không ai coi đó là thiếu lễ.
Ban Đức Thánh Hiền và vì sao hai ban đối xứng
Đối diện ban Đức Ông, nhiều chùa miền Bắc có ban Đức Thánh Hiền. Tượng thường là một vị tướng mạo hiền hoà, có nơi tay cầm vật biểu tượng. Cách giải thích hay gặp là Đức Thánh Hiền chỉ một vị đại đệ tử của đức Phật, nhiều nơi cho là tôn giả A Nan, người theo hầu Phật lâu năm và thuộc nhiều lời dạy; cũng có nơi giải thích khác. Đây là chỗ nên hỏi nhà chùa nếu muốn biết chắc vị được thờ ở ngôi chùa mình đến.
Hai ban đặt đối nhau theo lối bài trí cân xứng quen thuộc của chùa Bắc Bộ: một bên là vị đại diện cho người cư sĩ hộ trì chùa, một bên là vị đại diện cho hàng đệ tử xuất gia. Người đi lễ không cần nhớ thuyết nào là đúng; điều đáng nhớ là hai ban này thuộc hệ thờ Phật, nên lễ dâng là lễ chay, giống ban Tam bảo.
Ở chùa miền Nam và chùa Nam tông, cách bài trí khác hẳn, có khi không có hai ban này. Ở chùa người Hoa, ban hộ pháp có tượng và tên khác. Bài khấn trong bài này áp dụng cho các chùa có ban Đức Ông, Đức Thánh Hiền theo lối Bắc Bộ; đến chùa bài trí khác thì quan sát người địa phương làm và hỏi nhà chùa.
Bố cục lời khấn ở ban Đức Ông
Các sách văn khấn in bài cho ban Đức Ông khá giống nhau về khung, khác ở danh hiệu và câu chữ. Bố cục chung:
| Phần | Nội dung | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mở đầu | Câu niệm Phật, ba lần | Giống bài ở ban Tam bảo |
| Kính lạy | Kính lạy Đức Ông (Đức Chúa Ông), vị hộ trì ngôi chùa | Gọi theo cách chùa gọi, không tự thêm tước hiệu |
| Trình danh | Họ tên, nơi ở, ngày tháng âm lịch | Có thể bỏ tuổi |
| Lý do | Hôm nay đến chùa lễ Phật, xin phép Đức Ông | Ý chính của bài: xin phép người coi chùa |
| Lời cầu | Xin chứng minh lòng thành, cho gia đình bình an | Ngắn, một hai câu |
| Kết | Câu niệm Phật | Lạy hoặc vái rồi lui ra |
Ý "xin phép" là điểm khác của ban này. Theo tập quán nhiều nơi, người đi lễ vào chùa thường lễ Đức Ông trước, như vào nhà ai thì chào chủ nhà; rồi mới lễ ở Tam bảo và các ban khác. Không phải chùa nào cũng hướng dẫn thứ tự này; bài về thứ tự khấn các ban trong chuyên mục sẽ bàn kỹ hơn.
Ban Đức Thánh Hiền dùng cùng bố cục, chỉ thay phần kính lạy và bỏ ý "xin phép chủ chùa". Nhiều người lễ hai ban liền nhau, mỗi ban khấn vài câu.
Bản phổ biến: lời khấn ở ban Đức Ông
Bản dưới đây theo khuôn thường gặp trong sách văn khấn khi đi lễ chùa, đã lược những danh hiệu có nhiều dị bản. Chữ trong ngoặc là phần điền:
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy Đức Chúa Ông, ngài hộ trì Tam bảo, trông coi ngôi chùa này.
Con là: (họ tên). Ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, con đến chùa (tên chùa) lễ Phật, kính dâng nén hương, lễ chay trước ban.
Cúi xin Đức Ông cho phép con được vào lễ Tam bảo, chứng minh lòng thành, độ cho gia đình con được bình an, mọi người hoà thuận.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Lời ở ban Đức Thánh Hiền, theo cùng khuôn: "Con kính lạy Đức Thánh Hiền. Con là (họ tên), ở (địa chỉ), hôm nay đến chùa lễ Phật, thành tâm dâng nén hương. Cúi xin ngài chứng minh lòng thành, cho con biết lắng nghe, học điều hay lẽ phải." Câu cầu ở ban này nhiều người chọn hướng về sự học, sự hiểu biết, vì hình ảnh vị đệ tử nghe và nhớ lời Phật; đó là cách hiểu dân gian, không phải quy định.
Có sách in thêm đoạn dài về công đức hộ pháp. Nếu nhà bạn hoặc hội người đi lễ ở chùa quen dùng bản dài thì cứ dùng; bản ngắn ở trên đủ cho một lần lễ thường.
Bản khấn nôm ngắn cho hai ban
Nhiều người đi lễ chỉ dừng ở hai ban này vài giây, vái rồi đi. Nếu muốn nói vài lời, một bản khấn nôm gọn cho mỗi ban:
Ở ban Đức Ông: "Con kính lạy Đức Ông. Con là (tên), ở (nơi ở). Hôm nay con vào chùa lễ Phật, xin phép Đức Ông. Con xin cho cả nhà được bình an. Con kính lạy."
Ở ban Đức Thánh Hiền: "Con kính lạy Đức Thánh Hiền. Con là (tên), đến chùa lễ Phật. Con xin được biết nghe điều hay, sống cho phải. Con kính lạy."
Hai bản trên chỉ mất chừng nửa phút. Có thể khấn thầm, không cần thắp hương nếu chùa không có chỗ thắp ở ban này. Ở nhiều chùa đông khách vào dịp đầu năm, ban Đức Ông đông người chen nhau; khấn thầm từ phía sau, không cần chen lên sát ban.
Người dẫn con nhỏ đi chùa có thể dạy con chắp tay chào ở hai ban này như "chào ông trông chùa", trẻ dễ hiểu và nhớ lâu hơn nhiều so với một bài văn dài.
Những lúc người đi lễ thưa riêng với Đức Ông
Ngoài lần vái chào khi vào chùa, có vài dịp nhiều người dừng lại khấn kỹ hơn ở ban Đức Ông, vì quan niệm ngài là người trông coi việc chùa. Dịp hay gặp nhất là khi đến chùa làm công quả: dọn dẹp, nấu cỗ chay ngày rằm, phụ giúp khoá lễ. Trước khi bắt tay vào việc, nhiều người thắp hương ở ban này, thưa vài câu rằng mình đến góp sức, xin cho công việc chu toàn, mọi người làm cùng nhau hoà thuận.
Dịp thứ hai là khi góp công, góp của xây sửa chùa. Người đứng ra công đức thường đã làm việc với nhà chùa, có sổ ghi; lời khấn ở ban Đức Ông chỉ là phần thưa trình theo nếp cũ, không thay cho việc ghi nhận của nhà chùa. Lời khấn có thể là: "Con là (tên), ở (nơi ở), hôm nay xin góp phần nhỏ vào việc tu sửa (hạng mục) của chùa, kính trình Đức Ông chứng minh."
Dịp thứ ba là khi con em trong nhà xin vào ở chùa học, tu tập ngắn ngày, hoặc tham gia khoá tu. Cha mẹ đưa con đến thường thắp hương ở Tam bảo rồi ghé ban Đức Ông, thưa gửi con cho chùa trông nom. Những lời này mang tính bày tỏ, việc gửi con, quy định ăn ở thì làm việc trực tiếp với nhà chùa. Không có dịp nào bắt buộc phải có lời khấn riêng; đây chỉ là những thói quen nhiều người đi chùa lâu năm vẫn giữ.
Những điều nên biết khi lễ ở ban Đức Ông
Lễ chay. Ban Đức Ông thuộc hệ thờ trong chùa, nhiều chùa chỉ nhận lễ chay. Một số nơi có tục dâng lễ mặn ở ban này; đó là nếp riêng của từng chùa, không phải nếp chung, và nên hỏi trước khi mang lễ.
Không đổi lễ lấy việc. Có lời truyền miệng rằng Đức Ông "nghiêm", phải lễ to. Đó là lời đồn dân gian; nhà chùa không yêu cầu điều đó. Lời khấn thành tâm, ngắn gọn là đủ lễ.
Tiền công đức. Bỏ vào hòm công đức chung. Không đặt tiền lên tay tượng, không cài tiền vào khe ban thờ.
Khi ban không có tượng. Một số chùa nhỏ chỉ đặt bài vị hoặc bát hương. Lời khấn vẫn như trên; người đi lễ hướng về bát hương mà khấn.
Thời gian lễ. Không cần đứng lâu. Phần lớn người đi lễ dành thời gian chính cho ban Tam bảo và nhà Tổ; hai ban bên chỉ cần một lần vái, vài lời khấn.
Câu hỏi thường gặp
Đức Ông trong chùa có phải là Thổ địa không?
Không hẳn. Theo cách giải thích phổ biến ở chùa miền Bắc, Đức Ông là vị hộ trì ngôi chùa, thường kể là trưởng giả Cấp Cô Độc. Thổ địa là thần đất, có nơi thờ riêng trong khuôn viên chùa. Cách bài trí mỗi chùa khác nhau, nên hỏi nhà chùa.
Có bắt buộc lễ Đức Ông trước Tam bảo không?
Không bắt buộc. Nhiều sách văn khấn và nhiều người đi lễ giữ nếp lễ Đức Ông trước như chào người coi chùa, nhưng cũng nhiều chùa hướng dẫn lễ Tam bảo trước. Theo hướng dẫn của chùa mình đến là hợp lẽ nhất.
Ban Đức Ông có được dâng lễ mặn không?
Phần lớn chùa chỉ nhận lễ chay ở mọi ban trong chính điện. Một số nơi có nếp dâng lễ mặn ở ban Đức Ông, nhưng đó là tục riêng. Nếu muốn dâng lễ mặn, hỏi nhà chùa trước; không tự ý đặt lên ban.
Đức Thánh Hiền là ai?
Nhiều nơi giải thích Đức Thánh Hiền là tôn giả A Nan, vị đệ tử theo hầu đức Phật lâu năm; cũng có nơi giải thích khác. Đây là cách hiểu truyền miệng giữa các chùa, muốn biết chắc vị được thờ ở ngôi chùa cụ thể thì hỏi nhà chùa.
Có cần đọc tên chùa trong lời khấn Đức Ông không?
Không bắt buộc. Nhiều bản có câu "đến chùa (tên chùa)" cho rõ ràng, không nhớ tên thì nói "ngôi chùa này". Ý chính của lời khấn là xin phép vào lễ và kính lạy, không phụ thuộc vào việc đọc đủ tên.
Chùa không có ban Đức Ông thì có thiếu sót gì không?
Không. Nhiều chùa miền Nam, chùa Nam tông, chùa mới xây không bài trí ban Đức Ông theo lối Bắc Bộ. Người đi lễ chỉ cần lễ theo những ban chùa có, không phải tìm ban nào cho đủ.