KhanCung.comKhấn Cúng
Văn khấn theo vòng đời: con trẻ, cưới hỏi, mừng thọ

Văn khấn lễ lại mặt sau cưới: lời khấn nhà gái khi con gái con rể về thăm

Lễ lại mặt có lời khấn của bố mẹ cô dâu báo con gái con rể về thăm và lời khấn ngắn của đôi vợ chồng mới. Bố cục, khung lời khấn, chỗ điền, khấn nôm.

A young married couple seen from behind walking along a rice field path toward a tiled-roof house in Thanh Hoa, the husband carrying a covered basket, bright midday light, green and gold tones

Lễ lại mặt là lần đầu đôi vợ chồng mới cưới cùng về nhà gái sau đám cưới, mang lễ thắp hương tổ tiên nhà vợ. Lời khấn chính do bố hoặc mẹ cô dâu đọc ở bàn thờ, báo con gái con rể về thăm; sau đó con rể và con gái thắp hương khấn ngắn. Nhiều nhà trai cũng thắp hương báo trước khi đôi trẻ lên đường.

Bài này đưa ý nghĩa của lễ, bố cục các lời khấn, khung câu dựng trên khuôn văn khấn gia tiên, chỗ cần điền và bản khấn nôm. Ngày lại mặt, mang lễ gì có bài riêng ở chuyên mục lễ cúng; ở đây chỉ bàn phần lời.

Lại mặt, nhị hỷ, tứ hỷ là gì

"Lại mặt" nghĩa là trở lại gặp mặt. Sau ngày cưới, cô dâu theo chồng về nhà trai; lễ lại mặt là dịp cô trở lại nhà bố mẹ đẻ, lần này cùng chồng, với tư cách vợ chồng. Đây cũng là lần đầu chàng rể đến nhà vợ với vai con rể chính thức.

Theo tập quán nhiều nơi, lễ làm sau cưới một hoặc hai ngày, gọi là "nhị hỷ"; có nơi làm sau bốn ngày, gọi là "tứ hỷ". Ngày nay nhiều đôi làm ngay hôm sau ngày cưới cho gọn, nhất là khi phải đi làm lại hoặc ở xa. Không có ngày bắt buộc; hai nhà thống nhất là được.

Nhiều người trẻ gọi đơn giản là "về thăm nhà vợ" hay "về nhà ngoại sau cưới". Tên gọi khác nhau, nhưng việc thắp hương ở bàn thờ nhà gái và bữa cơm sum họp thì nơi nào cũng giống.

Ở nghĩa xưa, lễ lại mặt còn để nhà gái thấy con gái mình được nhà chồng đối xử tử tế, và để nhà trai bày tỏ lời cảm ơn nhà gái đã cho con về làm dâu. Ý nghĩa ấy vẫn còn trong lời khấn: nhà gái báo với tổ tiên con gái đã yên bề gia thất, và xin tổ tiên phù hộ cho đôi trẻ.

Các lời khấn trong ngày lại mặt

Không nhà nào bắt buộc đủ cả ba lượt. Bảng dưới gom các lượt thường gặp để bạn biết mình sẽ phải khấn ở lượt nào:

LượtNơi khấnNgười khấnÝ chính
Trước khi đi (tuỳ nhà)Bàn thờ nhà traiBố mẹ chú rểBáo con trai con dâu về nhà gái lại mặt, xin cho đi về bình an
Khi tới nhà gáiBàn thờ nhà gáiBố hoặc mẹ cô dâuBáo con gái con rể về thăm, dâng lễ, xin phù hộ đôi trẻ
Sau lời khấn chínhBàn thờ nhà gáiCon rể và con gáiRa mắt tổ tiên với tư cách vợ chồng, khấn ngắn

Lời khấn của bố mẹ cô dâu là lời chính. Lời của con rể và con gái chỉ vài câu, khấn thầm hay thành tiếng tuỳ người.

Nhà gái có ông bà nội còn sống và bàn thờ chính ở nhà ông bà, nhiều đôi ghé thắp hương ở đó nữa. Lời khấn ở bàn thờ chính do ông bà hoặc bác trưởng đọc, theo cùng khung.

Khung lời khấn của bố mẹ cô dâu

Khung dưới đây dựng trên khuôn văn khấn gia tiên phổ biến; câu chữ cụ thể có thể khác giữa các nhà:

Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và hương linh gia tiên họ (…) nội ngoại.
Tín chủ con là: (họ tên), ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
Con cháu kính cáo tổ tiên: con gái con là (họ tên) đã về làm dâu họ (…), nay cùng chồng là (họ tên con rể) trở về lại mặt, sắm lễ dâng lên tổ tiên.
Con cháu xin cảm tạ tổ tiên đã chứng giám cho việc cưới hỏi được trọn vẹn.
Cúi xin tổ tiên phù hộ cho vợ chồng các cháu yêu thương, hoà thuận, làm ăn yên ổn, hai bên gia đình gắn bó.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)

Nhà nào đã có lời khấn quen dùng mỗi khi con cháu đi xa về thăm, có thể dùng lại khung đó và chỉ thay phần trình việc. Lời khấn lại mặt không đòi một bản riêng; điều cần có là báo đúng việc, đúng tên người, đúng ngày.

Câu "đã về làm dâu họ (…)" điền họ nhà chồng. Câu "cảm tạ tổ tiên đã chứng giám cho việc cưới hỏi" có ý khép lại chuỗi lễ cưới: từ báo gia tiên trước cưới, ăn hỏi, xin dâu, đến lại mặt là trọn.

Lời khấn của con rể và con gái

Sau khi bố mẹ khấn xong, con rể và con gái thắp hương. Con rể lần đầu thắp hương ở nhà vợ thường lúng túng không biết nên nói gì. Không cần văn cổ; lời khấn của đôi trẻ chỉ cần có ba ý: xưng tên, ra mắt, xin phù hộ. Một khung gọn:

Con kính lạy tổ tiên họ (…).
Con là (họ tên con rể), chồng của (tên vợ), ở (địa chỉ).
Hôm nay ngày (…) tháng (…) âm lịch, vợ chồng con về lại mặt, xin ra mắt tổ tiên.
Con xin hứa sẽ thương yêu, chăm lo cho (tên vợ), hiếu thảo với bố mẹ hai bên.
Cúi xin tổ tiên chứng giám, phù hộ cho vợ chồng con.

Câu "con xin hứa" không có trong mọi bản, nhưng nhiều con rể tự thêm vào và được bố mẹ vợ rất quý. Con gái khấn sau, xưng "con là (tên), nay đã về làm dâu họ (…), cùng chồng về thăm ông bà tổ tiên".

Nếu con rể theo đạo khác, không thắp hương theo cách quen, có thể cúi đầu chào trước bàn thờ và nói lời thưa ngắn bằng lời của mình. Nhà gái tôn trọng điều đó là đủ.

Chỗ điền và lỗi hay gặp

Ngày âm lịch đổi tháng, đổi năm. Cưới ngày cuối tháng, lại mặt sang đầu tháng sau thì lời khấn đọc ngày tháng mới. Ví dụ giả định: cưới ngày 29 tháng Chạp năm Bính Ngọ, lại mặt sau giao thừa thì đã là tháng Giêng năm Đinh Mùi.

Họ nhà chồng. Câu "về làm dâu họ (…)" đọc họ nhà chồng, không phải họ của cô dâu. Đây là chỗ người khấn hay đọc nhầm vì quen đọc họ nhà mình.

Tên con rể. Đọc họ tên đầy đủ trong lần khấn đầu tiên này, các lần sau có thể chỉ đọc tên.

Địa chỉ. Bố mẹ cô dâu đọc địa chỉ nhà mình. Con rể khấn có thể đọc nơi vợ chồng đang ở. Tên xã, tỉnh theo đơn vị mới; ví dụ giả định "ở xã (…), tỉnh Thanh Hoá".

Đôi trẻ lại mặt muộn. Đi xa, bận việc, lại mặt sau vài tuần cũng không sao. Lời khấn bỏ câu "sau ngày cưới" nếu thấy không hợp, chỉ đọc "nay vợ chồng các cháu về thăm".

Những trường hợp đặc biệt

Nhà gái ở rất xa. Đôi trẻ cưới ở thành phố mà nhà gái ở tỉnh xa, có khi phải vài tuần sau mới về lại mặt được. Trong lúc chờ, nhiều nhà gái vẫn thắp hương báo tổ tiên rằng con gái đã về nhà chồng; khi đôi trẻ về thì khấn lại mặt như thường.

Đôi trẻ ra nước ngoài ngay sau cưới. Có nhà gộp lại mặt vào ngày hôm sau ngày cưới, có nhà để tới lần đầu đôi trẻ về nước. Lời khấn đọc đúng hoàn cảnh: "nay các cháu về thăm trước khi đi xa" hoặc "nay các cháu về nước, về thăm nhà".

Nhà gái có tang trong thời gian cưới. Lễ lại mặt thường làm gọn, không mời khách. Lời khấn có thêm câu thưa với người mới mất. Cách làm cụ thể theo nếp họ tộc và người lớn trong nhà.

Cô dâu là con một, bố mẹ già yếu. Đôi trẻ có thể chủ động thắp hương và khấn nôm thay bố mẹ, trong khi bố mẹ ngồi gần đó. Không có quy định người khấn chính phải đứng lâu trước bàn thờ.

Bản khấn nôm cho ngày lại mặt

Bản nôm dành cho bố mẹ cô dâu và đôi trẻ, đủ ý mà dễ đọc:

  • Bố mẹ cô dâu: "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay ngày (…) âm lịch, con gái con là (tên) cùng chồng là (tên) về lại mặt. Con xin cảm ơn ông bà đã cho việc cưới hỏi của các cháu được trọn vẹn. Xin ông bà phù hộ cho vợ chồng các cháu hoà thuận, mạnh khoẻ. Con xin cảm tạ."
  • Con rể: "Con lạy ông bà tổ tiên. Con là (tên), chồng của (tên vợ). Hôm nay con về ra mắt ông bà, xin ông bà phù hộ cho vợ chồng con."
  • Con gái: "Con lạy ông bà. Con là (tên), nay đã lập gia đình, hôm nay cùng chồng về thăm. Xin ông bà phù hộ cho chúng con."
  • Nhà trai trước khi đi (nếu làm): "Con lạy ông bà tổ tiên họ (…). Hôm nay con trai con là (tên) cùng vợ về nhà ngoại lại mặt. Xin ông bà cho đi về bình an."

Sau khi khấn, nhiều nhà mời đôi trẻ ở lại ăn cơm. Bữa cơm ấy là phần ấm áp nhất của ngày lại mặt, quan trọng không kém lời khấn.

Giữ tờ khấn cho những lần về sau

Lễ lại mặt là lần đầu, nhưng không phải lần cuối con rể thắp hương ở nhà vợ. Tết, giỗ bên ngoại, ngày rằm khi về thăm, đôi trẻ sẽ còn đứng trước bàn thờ này nhiều lần. Ghi lại tờ khấn ngày lại mặt, sửa phần trình việc theo từng dịp, là cách để con rể không phải lúng túng lần nào.

Trên tờ ấy nên có sẵn: họ của tổ tiên nhà vợ, tên bố mẹ vợ, địa chỉ nhà vợ theo tên đơn vị hành chính mới, và ngày giỗ của ông bà bên vợ nếu đã được kể. Những chi tiết này người trong nhà thuộc lòng, nhưng người mới về làm rể thì chưa.

Với cô dâu, lễ lại mặt cũng là dịp nhận ra mình giờ đứng ở vai khác trước bàn thờ nhà mình: con gái đã có gia đình riêng, xưng "con đã về làm dâu họ (…)". Nhiều người kể rằng đây là lúc họ thấy rõ nhất mình đã lấy chồng, rõ hơn cả trong ngày cưới đông người.

Câu hỏi thường gặp

Lễ lại mặt bắt buộc phải làm sau đúng hai ngày không?

Không bắt buộc. Nhị hỷ (sau một, hai ngày) và tứ hỷ (sau bốn ngày) là tập quán của từng vùng. Ngày nay nhiều đôi làm ngay hôm sau hoặc khi thuận tiện. Lời khấn dùng được cho mọi ngày.

Con rể có cần khấn thành tiếng không?

Không cần. Con rể có thể khấn thầm sau khi thắp hương. Nhiều người chọn khấn thành tiếng vài câu ngắn để bố mẹ vợ nghe, vì đó là lần đầu ra mắt tổ tiên nhà vợ với tư cách con rể.

Nhà trai có phải khấn trước khi đôi trẻ đi lại mặt không?

Tuỳ nếp nhà. Có nhà thắp hương báo tổ tiên con trai con dâu về nhà ngoại, có nhà không làm. Lời khấn này rất ngắn, chủ yếu xin cho đôi trẻ đi về bình an.

Bố mẹ cô dâu đã mất thì ai khấn trong lễ lại mặt?

Thường là anh chị em ruột của cô dâu, hoặc ông bà, chú bác bên nội. Người khấn đọc rõ vai của mình, ví dụ "anh trai con là (…) thay mặt bố mẹ". Đôi trẻ có thể thêm một câu thưa với bố mẹ đã khuất.

Lễ lại mặt và lễ tạ ông Tơ bà Nguyệt có làm chung không?

Không làm chung. Lễ lại mặt khấn tổ tiên nhà gái, còn lễ tạ tơ hồng (ở nơi có tục ấy) khấn ông Tơ bà Nguyệt. Hai lời khấn khác đối tượng nên làm riêng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183