KhanCung.comKhấn Cúng
Văn khấn khi đi lễ đình, chùa, đền, phủ

Văn khấn Thành hoàng ở đình làng và miếu: kính lạy thần làng, bản phổ biến, khấn nôm

Văn khấn ở đình làng là lời kính lạy Đức Thành hoàng bản cảnh, vị thần che chở cả làng. Bản phổ biến, cách gọi tôn hiệu, khấn ở miếu, khấn nôm và dị bản.

A centuries-old communal house in Bac Ninh seen across a lotus pond at sunrise, curved tiled roof and wooden pillars, two elderly villagers seen from behind carrying an offering tray

Văn khấn ở đình làng là lời kính lạy Đức Thành hoàng bản cảnh, vị thần được làng thờ làm chủ, che chở cho cả cộng đồng, cùng các vị thần linh cai quản đất làng. Bố cục giống các bài khấn thần linh: kính lạy, trình tên tuổi và nơi ở, ngày tháng, lý do đến đình, nguyện cầu cho gia đình và cho làng, kết bằng "cẩn cáo" hoặc lời xin chứng giám.

Bài này dành cho người đến lễ đình làng mình, đình làng quê vợ, quê chồng, hay ghé miếu thần ở đầu làng: hiểu Thành hoàng là ai, gọi tôn hiệu thế nào cho đúng, một bản khấn theo khuôn sách, bản khấn nôm và dị bản ở Nam Bộ. Lịch mở cửa đình, cách xin phép ban quý tế đã có bài riêng trong mảng đi lễ; bài này chỉ bàn lời khấn.

Thành hoàng là ai và vì sao mỗi làng một vị

Chữ "Thành hoàng" gốc Hán, vốn chỉ vị thần bảo hộ thành trì. Khi vào Việt Nam, tục thờ này gắn với làng xã: mỗi làng tôn một vị làm thần chủ, thờ ở đình, gọi là Thành hoàng làng. Vị được thờ có thể là thiên thần (thần tự nhiên như thần núi, thần sông), có thể là nhân thần, tức người có công với làng hay với nước, như người lập làng, người dạy nghề, vị tướng từng đóng quân ở vùng đó.

Thời phong kiến, nhiều vị Thành hoàng được triều đình ban sắc phong, xếp vào các bậc thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng thần. Thần tích (sự tích của vị thần) và sắc phong thường được làng cất giữ cẩn thận, có nơi đã dịch ra chữ quốc ngữ. Vì vậy tôn hiệu của Thành hoàng mỗi làng mỗi khác, có khi rất dài và gồm nhiều mỹ tự.

Có làng thờ nhiều vị cùng lúc, có làng không còn biết rõ tên vị thần vì thần tích thất lạc. Lời khấn của người đi lễ vì thế dùng cách gọi chung "Đức Bản cảnh Thành hoàng", nghĩa là vị Thành hoàng của chính vùng đất này. Đây là cách gọi an toàn, đúng nếp và được dùng rộng rãi trong các sách văn khấn.

Các cách gọi trong lời khấn ở đình

Người mới đến đình hay lúng túng với các cụm danh xưng. Bảng dưới đây gom các cách gọi thường gặp:

Cách gọiNghĩaKhi nào dùng
Đức Bản cảnh Thành hoàngThành hoàng của chính vùng đất nàyMọi đình làng, khi không chắc tôn hiệu
Bổn cảnh Thành hoàngCùng nghĩa, cách đọc quen ở Nam BộĐình Nam Bộ
Đức Thành hoàng (tôn hiệu)Gọi kèm tên, mỹ tự của vị thầnKhi đình có bài vị, thần tích rõ
Thổ địa, Thổ thầnThần đất cai quản khu vựcLời kính lạy đi kèm sau Thành hoàng
Chư vị Tôn thầnCác vị thần linh khác thờ tại đìnhGọi chung, không kể tên
Cẩn cáoKính cẩn thưa trìnhCâu kết của nhiều bài khấn thần

Tôn hiệu đầy đủ của Thành hoàng thường dài, gồm các chữ mỹ tự do triều đình ban. Nếu muốn đọc, chép lại từ bài vị hoặc hỏi ban quý tế của đình; không tự chép từ nguồn không rõ, vì mỗi làng một vị, chép nhầm sang tôn hiệu làng khác là chuyện thường gặp.

Người ngoài làng đến lễ chỉ cần gọi "Đức Bản cảnh Thành hoàng làng (tên làng)". Ví dụ giả định: "Đức Bản cảnh Thành hoàng làng Đông, xã (…), tỉnh Hưng Yên".

Bản phổ biến: văn khấn ở đình làng

Đình là nơi thờ thần, không phải chùa. Nhiều sách văn khấn vẫn mở bài bằng câu niệm Phật theo thói quen của người đi lễ miền Bắc; nhiều làng lại không dùng câu này ở đình. Bản dưới đây theo khuôn thờ thần, mở bằng lời kính lạy, chữ trong ngoặc là phần điền:

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần.
Con kính lạy Đức Bản cảnh Thành hoàng (tôn hiệu, nếu biết) ngự tại đình làng (tên làng).
Con kính lạy các vị Thổ địa, chư vị Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ con là: (họ tên). Ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch, tín chủ con đến đình, thành tâm dâng nén hương, lễ mọn trước án.
Cúi xin Đức Thành hoàng chứng giám lòng thành, che chở cho dân làng được yên ổn, mùa màng thuận hoà, gia đình con mạnh khoẻ, con cháu biết giữ nếp làng.
Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cẩn cáo.

Dị bản có câu niệm Phật thì thêm "Nam mô A Di Đà Phật" ba lần ở đầu và cuối. Người làng nên theo cách các cụ trong ban quý tế vẫn dùng; người ngoài làng chọn một cách và giữ nhất quán.

Câu nguyện "cho dân làng được yên ổn" là nét riêng của lời khấn ở đình. Đình là nơi thờ chung của cả cộng đồng, nên lời khấn thường cầu cho làng trước, cho nhà mình sau. Ở nhiều làng, các cụ rất để ý chi tiết này.

Khấn ở miếu thần đầu làng, miếu Thổ địa

Ngoài đình, nhiều làng có miếu nhỏ ở đầu làng, cuối làng, ven đường hay gốc cây cổ thụ. Miếu có thể thờ thần đất, thần cai quản một khu vực, hoặc chính vị Thành hoàng của làng (có làng gọi là miếu thờ vọng). Người đi qua thường dừng lại vái, có khi thắp một nén hương.

Lời khấn ở miếu ngắn hơn ở đình, theo khung: kính lạy vị thần cai quản nơi đây, trình tên, nói lý do (đi ngang, mới đến làng, xin phép làm một việc ở khu đất gần đó), nguyện bình an. Ví dụ: "Con kính lạy chư vị Thần linh cai quản miếu này. Con là (tên), ở (nơi ở), hôm nay đi qua, kính dâng nén hương. Cúi xin chư vị chứng giám, cho con đi đường bình an." Không biết miếu thờ vị nào thì gọi chung như vậy là đủ.

Miếu không người trông, hương nến dễ gây cháy, nhất là miếu dưới gốc cây, cạnh bãi cỏ. Thắp hương xong chờ một lúc, không để nến cháy khi rời đi. Không lấy đồ thờ ở miếu, không tự ý dọn bát hương hay bài vị; muốn sửa sang miếu, hỏi người trong làng.

Ở thành phố, nhiều miếu nhỏ còn sót lại giữa khu dân cư, do người trong phố trông nom. Người mới chuyển đến có thể thắp hương báo tên mình như một cách chào hàng xóm cũ của khu phố, nhưng không bắt buộc.

Văn tế của ban quý tế và lời khấn của người dân: hai việc khác nhau

Ngày hội làng, người đến đình sẽ thấy hai lớp nghi lễ diễn ra song song. Lớp thứ nhất là tế lễ của làng: ban quý tế gồm các cụ cao tuổi, người có uy tín, mặc áo thụng, đội mũ, tế theo nghi thức có người xướng, người đọc chúc văn (văn tế) bằng giọng ngân. Văn tế mỗi làng có bài riêng, nhiều bài viết bằng chữ Hán từ xưa, ca ngợi công đức Thành hoàng và cầu cho cả làng.

Lớp thứ hai là lời khấn của từng người dân: đến đình thắp hương, đứng trước ban khấn bài ngắn cho gia đình mình. Hai lớp này không thay thế nhau. Người dân không cần học thuộc văn tế, cũng không đọc văn tế thay lời khấn riêng. Khi ban quý tế đang tế, người dân đứng ngoài khu vực tế, chờ xong mới lên thắp hương.

Một số người trẻ được làng chọn vào đội tế, đội rước, sẽ được các cụ dạy riêng phần việc của mình. Đó là truyền thống riêng từng làng, cách tập và lời xướng do làng quyết. Bài khấn trong bài này chỉ là phần của người đến lễ, không phải phần của ban tế.

Dịp lễ đình trong năm và lời khấn tương ứng

Lễ đầu năm. Nhiều làng mở cửa đình những ngày đầu xuân. Lời khấn đổi câu lý do: "Nhân dịp đầu xuân năm (tên năm âm lịch), tín chủ con đến đình kính lễ, cầu cho làng một năm yên ổn." Năm 2027 là năm Đinh Mùi.

Ngày hội làng, ngày tiệc thần. Mỗi làng một ngày, thường gắn với ngày sinh, ngày hoá của Thành hoàng hoặc ngày lập làng. Lễ chính do ban quý tế cử hành với văn tế riêng; người dân đến dâng hương thì khấn ngắn theo bản phổ biến.

Ngày rằm, mùng một. Ở những làng mở đình ngày sóc vọng, người làng đến thắp hương, khấn ngắn như trên, đổi câu "nhân ngày rằm (hoặc mùng một) tháng (…)".

Báo việc lớn trong nhà. Có làng giữ nếp báo đình khi con cháu đỗ đạt, cưới hỏi, đi xa; lời khấn nói rõ việc báo, ví dụ "nay con trai con là (tên) đỗ đại học, con đến kính báo". Đây là nếp riêng từng làng, không phải bắt buộc chung.

Lễ Kỳ yên ở Nam Bộ. Nhiều đình Nam Bộ tổ chức lễ Kỳ yên (cầu an) hằng năm, có ban hội đình cử hành nghi lễ riêng. Người dân đến dự thắp hương, khấn ngắn kính lạy Bổn cảnh Thành hoàng, cầu cho xóm ấp bình an.

Bản khấn nôm cho người ngoài làng, người trẻ

Người về quê vợ, quê chồng lần đầu, hay người trẻ lớn lên ở thành phố về làng dịp hội, thường ngại đứng khấn ở đình vì không biết tôn hiệu, sợ nói sai trước mặt các cụ. Bản khấn nôm sau giữ đủ ý mà không cần chữ Hán Việt:

"Con kính lạy Đức Thành hoàng làng (tên làng), con kính lạy các vị thần linh ở đình.
Con là (tên), (quan hệ: con dâu nhà ông bà …, cháu nội cụ …), hôm nay về làng dự hội, đến đình thắp nén hương.
Con xin cho làng mình yên ổn, cho gia đình con mạnh khoẻ, con cháu đi xa vẫn nhớ quê.
Con kính lạy."

Câu giới thiệu quan hệ là chỗ quan trọng: ở làng, người ta biết nhau qua họ hàng, giới thiệu mình là con cháu nhà nào cũng là cách lễ phép với cả làng. Có thể khấn thầm, hoặc nhờ một cụ trong họ dẫn lên đình, khấn theo.

Người theo tôn giáo khác về dự hội làng không cần khấn; đứng nghiêm, cúi đầu trước đình là đủ lễ với dân làng.

Câu hỏi thường gặp

Thành hoàng làng là ai?

Thành hoàng làng là vị thần được làng thờ ở đình làm thần chủ, che chở cho cả cộng đồng. Vị đó có thể là thần tự nhiên hoặc người có công với làng, với nước. Mỗi làng một vị, tên và sự tích ghi trong thần tích, sắc phong của làng.

Không biết tôn hiệu Thành hoàng thì khấn thế nào?

Gọi chung "Đức Bản cảnh Thành hoàng làng (tên làng)" là đúng nếp và được dùng rộng rãi. Muốn đọc tôn hiệu đầy đủ, chép từ bài vị ở đình hoặc hỏi ban quý tế. Không chép tôn hiệu từ nguồn không rõ vì dễ nhầm sang làng khác.

Văn khấn ở đình có cần câu Nam mô A Di Đà Phật không?

Không bắt buộc. Đình là nơi thờ thần, nhiều làng không dùng câu niệm Phật ở đình. Một số sách văn khấn vẫn in câu này theo thói quen chung. Người làng theo cách các cụ trong làng dùng, người ngoài làng chọn một cách.

Phụ nữ có được vào đình khấn không?

Ngày nay phần lớn đình mở cho mọi người đến lễ, không phân biệt nam nữ. Một số làng còn giữ lệ riêng cho các nghi lễ chính, như chỉ nam giới trong ban tế được vào hậu cung. Người đến lễ nên hỏi và theo lệ của làng đó.

Bổn cảnh và Bản cảnh khác nhau không?

Không khác nghĩa. "Bản" và "bổn" là hai cách đọc cùng một chữ Hán, nghĩa là "của chính nơi này". Người miền Bắc quen đọc "Bản cảnh", người Nam Bộ quen đọc "Bổn cảnh". Theo cách đọc của địa phương nơi mình đến lễ.

Người ngoài làng có được thắp hương ở đình không?

Được, khi đình mở cửa. Người ngoài làng nên xin phép người trông đình, đứng phía sau người làng trong ngày hội, dâng hương và khấn ngắn. Muốn góp lễ vào hội làng thì hỏi ban tổ chức, không tự đặt lễ lên ban chính.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183