Văn khấn là lời người chủ lễ đọc trước bàn thờ, thường bằng tiếng Việt có xen chữ Hán Việt, dùng trong lễ cúng ở nhà và khi đi lễ. Văn tế (còn gọi chúc văn) là bài văn đọc trong một cuộc tế có nghi thức xướng lễ, như tế đình, tế tổ họ, tế trong tang lễ, theo khuôn chữ Hán. Sớ là văn thư viết chữ Hán dâng lên ở chùa, đền, phủ, thường do người trong nghề viết, đọc xong thì hoá.
Ba loại này hay bị gọi lẫn, nhất là khi các trang mạng gọi mọi lời đọc trước bàn thờ là "văn khấn". Phân biệt được chúng giúp bạn biết dịp nào gia đình tự làm được, dịp nào thuộc về họ tộc, đình làng, nhà chùa. Bài chỉ giải thích về mặt văn hoá và hình thức; trang không hướng dẫn viết sớ, không khuyên mua sớ.
Văn khấn: lời thưa của người chủ lễ
Văn khấn là loại gần gũi nhất với gia đình. Người đọc là tín chủ, tức người đứng ra làm lễ: chủ nhà, người con trưởng, người đang lo việc cúng. Người đọc đứng trước bàn thờ, đọc vừa đủ nghe hoặc đọc thầm, không cần ai xướng, không cần đội lễ nghi phụ trợ. Đó là điểm khác căn bản với văn tế.
Ngôn ngữ văn khấn hiện nay chủ yếu là tiếng Việt, xen những cụm Hán Việt cố định như "Hoàng thiên Hậu thổ", "tín chủ", "chứng giám", "phù hộ độ trì". Phần lớn bài đọc được và hiểu được nếu biết nghĩa khoảng vài chục chữ. Văn khấn in trong sách thường có sẵn chỗ để điền ngày, tên, nơi ở.
Văn khấn dùng cho rất nhiều dịp: mùng một, ngày rằm, giỗ, Tết, động thổ, nhập trạch, đầy tháng, đi lễ chùa, đền. Sau khi khấn, tờ giấy chép văn khấn là để đọc; nhà nào giữ lại cho lần sau hay hoá đi là theo nếp nhà, sách văn khấn phổ biến không bắt phải làm theo cách nào.
Khấn nôm, tức khấn bằng lời của mình không theo bài soạn sẵn, cũng là một dạng văn khấn theo nghĩa rộng. Hệ đã có danh mục riêng về khấn nôm; ở đây chỉ cần nhớ rằng văn khấn in sẵn và khấn nôm cùng một chức năng: thưa trình với người được thờ.
Văn tế, chúc văn: bài văn của một cuộc tế
Tế là một hình thức lễ trang trọng hơn cúng, có nhiều người cùng làm theo nghi thức: chủ tế đứng giữa, các bồi tế đứng hai bên, người xướng lễ hô từng bước (dâng hương, dâng rượu, đọc chúc). Bài văn đọc ở bước "đọc chúc" gọi là chúc văn hay văn tế. Người đọc là người được giao việc đọc chúc, đọc bằng giọng ngân theo nhịp, khác hẳn cách đọc thầm của văn khấn.
Văn tế truyền thống viết bằng chữ Hán theo một khuôn khá chặt: mở bằng chữ "Duy" và năm tháng theo can chi, tiếp đến tên người đứng tế "dám rõ ràng thưa lên" vị được tế, phần ca ngợi công đức hoặc kể việc, phần dâng lễ, và kết bằng "thượng hưởng" (mời về hưởng). Có bài văn tế bằng chữ Nôm, thể phú, mang giá trị văn học như "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu.
Ngày nay văn tế còn gặp ở lễ hội đình làng, lễ tế tổ ở nhà thờ họ, một số lễ tang theo nghi thức truyền thống. Gia đình bình thường hiếm khi tự đọc văn tế; đó là việc của ban tế, của họ tộc. Nếu bạn được nhờ đọc chúc, người trong ban tế thường đưa sẵn bản và dặn nhịp đọc.
Sớ: văn thư dâng ở chùa, đền, phủ
Sớ là một loại văn bản viết chữ Hán theo khuôn của khoa nghi, dâng lên chư Phật, chư thần trong các lễ ở chùa, đền, phủ hoặc trong một số đàn lễ. Một tờ sớ thường ghi nơi ở, tên những người dâng, việc cầu, các vị được dâng, ngày tháng, và kết bằng chữ "cẩn sớ". Sớ thường được đọc, có khi tụng theo nhịp, rồi hoá cùng vàng mã.
Khác với văn khấn, sớ không phải thứ gia đình tự soạn: nó thuộc về nghề của nhà chùa, thủ từ, người làm khoa cúng. Ở một số đền, phủ có dịch vụ viết sớ cho khách đi lễ. Trang không hướng dẫn cách viết sớ, không khuyên mua sớ và không đánh giá sớ nào "linh" hơn sớ nào.
Điều nên biết là: đi lễ chùa, đền với lễ chay và lời khấn của mình là đủ theo nếp phổ biến. Nhiều nhà chùa còn khuyên người đi lễ không cần sớ, không cần lễ mặn, giữ lòng thành và giữ trật tự là chính. Nếu muốn làm lễ có sớ, cách đúng mực là hỏi trực tiếp nhà chùa, ban quản lý di tích nơi mình đến.
Một chỗ hay lẫn: nhiều trang mạng gọi bài khấn đọc ở đền là "sớ". Thật ra lời bạn tự đọc vẫn là văn khấn; sớ là văn bản viết, mang tính văn thư.
Bảng so sánh văn khấn, văn tế và sớ
Bảng gom các điểm khác nhau chính. Ở từng địa phương có thể có cách gọi riêng; đây là cách phân biệt phổ biến.
| Tiêu chí | Văn khấn | Văn tế (chúc văn) | Sớ |
|---|---|---|---|
| Ai đọc | Tín chủ, người đứng lễ | Người đọc chúc trong ban tế | Nhà chùa, thủ từ, người làm khoa cúng |
| Ngôn ngữ | Tiếng Việt xen Hán Việt | Chủ yếu chữ Hán, có bài chữ Nôm | Chữ Hán theo khuôn khoa nghi |
| Hình thức đọc | Đọc nhỏ hoặc đọc thầm | Đọc ngân theo nhịp, có xướng lễ | Đọc hoặc tụng, rồi hoá |
| Dịp dùng | Lễ ở nhà, đi lễ hằng năm | Tế đình, tế tổ họ, tế trong tang lễ | Lễ ở chùa, đền, phủ, đàn lễ |
| Ai soạn | Sách in, bản gia đình, tự khấn nôm | Ban tế, người giỏi chữ trong họ, làng | Người trong nghề |
| Gia đình tự làm | Có | Ít khi | Không cần |
Nhìn bảng sẽ thấy ba loại văn khác nhau nhiều ở người đọc và mức độ nghi thức, chứ không chỉ ở câu chữ. Một gia đình bình thường dùng văn khấn quanh năm, có thể cả đời không cần đụng tới văn tế hay sớ.
Văn cáo và lời cáo yết: lời thưa trong những việc lớn
Ngoài ba loại trên, sách gia lễ còn nhắc tới văn cáo, tức bài văn "cáo yết", thưa với tổ tiên một việc lớn của gia đình hay dòng họ: con cháu dựng vợ gả chồng, sửa nhà thờ họ, tu sửa mộ phần, hoàn thành gia phả. Chữ "cáo" nghĩa là thưa, báo; "cáo yết" là thưa trình một cách trang trọng.
Ở nhà thờ họ, văn cáo có thể được đọc trong một cuộc tế nhỏ, theo khuôn gần với văn tế. Ở gia đình, phần cáo yết thường hoà vào văn khấn: bài khấn báo gia tiên trước ngày cưới, bài khấn khi sửa nhà, khi chuyển bàn thờ đều mang tinh thần "cáo", tức báo để ông bà biết. Cuối nhiều bài khấn in còn giữ chữ "cẩn cáo", dấu vết của khuôn văn cáo.
Bạn cũng có thể gặp chữ "biểu", "trạng", "điệp" trong khoa nghi của nhà chùa hay các đàn lễ lớn. Đó là những loại văn thư riêng của nghề cúng, người đi lễ thông thường hầu như không phải dùng. Gặp chúng trong lễ ở chùa, ở họ, cách đúng mực là để người phụ trách lo, mình theo hướng dẫn.
Điểm chung của tất cả các loại văn này là chúng đều là lời thưa trình; khác nhau ở độ trang trọng, ai đứng ra đọc và khuôn chữ.
Từ văn tế chữ Hán đến văn khấn quốc ngữ
Nhìn kỹ, văn khấn quốc ngữ hiện nay mang nhiều dấu vết của văn tế, văn cáo chữ Hán. Phần mở ghi ngày tháng theo can chi giống chữ "Duy … tuế thứ" của văn tế. Phần "tín chủ con là … ngụ tại …" giống chỗ văn tế ghi tên người đứng tế. Câu "kính cẩn sửa biện hương hoa lễ vật" là cách nói Việt hoá của "cẩn dĩ … chi nghi", tức kính đem lễ vật dâng lên. Chữ kết "cẩn cáo", "thượng hưởng" thì giữ gần như nguyên.
Khi chữ Hán không còn được học phổ biến, những người giỏi chữ trong làng, trong họ ít dần, người ta chuyển khuôn văn tế sang tiếng Việt cho gia đình tự đọc được. Các sách văn khấn in bằng chữ quốc ngữ, lưu hành rộng trong mấy chục năm gần đây, đã góp phần chuẩn hoá phần nào câu chữ, dù mỗi cuốn vẫn một khác.
Ngược lại, văn khấn cũng mượn từ nếp đi lễ chùa: câu niệm "Nam mô A Di Đà Phật" ở đầu và cuối, lời kính lạy "mười phương chư Phật". Vì thế một bài văn khấn gia tiên hôm nay là chỗ gặp nhau của hai dòng: khuôn văn tế Nho gia và thói quen niệm Phật dân gian. Hiểu nguồn gốc kép này, bạn sẽ không ngạc nhiên khi thấy cùng một dịp mà bản thì kết bằng "cẩn cáo", bản thì kết bằng câu niệm.
Sự chuyển đổi này cũng giải thích vì sao văn khấn ngày nay dễ đọc hơn hẳn văn tế xưa: nó được làm ra để một người bình thường, không học chữ Hán, vẫn đứng thưa trình được trước bàn thờ nhà mình.
Gia đình nên dùng loại nào vào lúc nào
Lễ ở nhà hằng tháng, giỗ, Tết: văn khấn theo bản phổ biến hoặc bản của gia đình, hoặc khấn nôm. Đây là phần việc gia đình tự làm trọn được.
Lễ tế tổ ở nhà thờ họ: văn tế hay văn cáo do ban khánh tiết của họ chuẩn bị. Thành viên trong họ dự lễ, vái theo, không phải tự soạn.
Lễ hội đình làng: ban tế của làng lo văn tế. Người dân đến lễ thì thắp hương và khấn bằng lời của mình ở ban thờ Thành hoàng.
Đi lễ chùa, đền, phủ: lễ chay, văn khấn ngắn hoặc khấn nôm là đủ theo nếp phổ biến. Muốn làm lễ có sớ thì hỏi nhà chùa, ban quản lý di tích, không cần tìm mua ở ngoài.
Tang lễ và các tuần sau tang: nghi lễ chi tiết theo nhà chùa, thầy lễ hoặc họ tộc gia đình mời; phần lời khấn gia đình tự đọc được ở các lễ cúng cơm, tuần thất.
Khi không chắc: hỏi người lớn trong họ, vì mỗi họ, mỗi làng một nếp. Câu hỏi đơn giản "nhà mình xưa giờ làm thế nào" thường có câu trả lời nhanh nhất.
Câu hỏi thường gặp
Văn khấn và văn tế có thể dùng thay cho nhau không?
Không nên. Văn tế gắn với nghi thức tế có chủ tế, bồi tế, xướng lễ và đọc theo nhịp ngân. Văn khấn là lời một người thưa trình trước bàn thờ. Đem văn tế ra đọc như văn khấn ở nhà thì quá trang trọng, còn đọc văn khấn trong cuộc tế thì thiếu khuôn.
Đi lễ chùa có bắt buộc phải có sớ không?
Không bắt buộc. Theo nếp phổ biến, người đi lễ chùa dâng lễ chay, thắp hương, khấn ngắn là đủ. Nhiều nhà chùa khuyên đi lễ giản dị. Nếu muốn có sớ cho một lễ cầu an, nên hỏi chính nhà chùa thay vì mua ở hàng quán.
Chúc văn và văn tế có giống nhau không?
Trong cách gọi thông thường ở lễ đình và lễ họ, chúc văn chính là bài văn tế được đọc ở bước đọc chúc của cuộc tế. Một số nơi phân biệt chi tiết hơn theo khoa nghi riêng, nhưng người đi dự lễ có thể coi hai tên gọi là một.
Vì sao cuối văn khấn có chữ cẩn cáo?
Cẩn cáo nghĩa là kính cẩn thưa trình. Đây là chữ kết của văn cáo, văn tế chữ Hán, còn sót lại trong một số bản văn khấn quốc ngữ. Bản khác kết bằng câu niệm Phật. Hai kiểu đều phổ biến, chọn theo bản gia đình đang dùng.
Gia đình có nên tự viết văn tế cho lễ giỗ tổ của họ không?
Việc này nên để ban khánh tiết hoặc người am hiểu chữ Hán trong họ đảm nhận, vì văn tế có khuôn chặt và thường đọc trước cả họ. Nếu họ không còn người viết, nhiều nơi dùng văn khấn quốc ngữ trang trọng thay cho văn tế.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có phải là văn tế dùng trong cúng lễ không?
Bài này do Nguyễn Đình Chiểu soạn để tế các nghĩa sĩ hy sinh, nên vốn thuộc thể văn tế. Ngày nay nó được biết đến chủ yếu như một tác phẩm văn học lớn, học trong nhà trường, hơn là một bài đọc trong nghi lễ gia đình.