Trong văn khấn cổ truyền, ngày tháng luôn ghi theo âm lịch và đọc bằng tiếng nói thường: "hôm nay là ngày mùng Một tháng Giêng", "ngày Rằm tháng Bảy", "ngày hai mươi ba tháng Chạp", rồi kèm tên năm theo can chi. Không cần đọc ngày dương lịch, không cần đọc kiểu "15/7". Chỗ hay nhầm không phải cách đọc mà là cách xác định: hôm nay là ngày âm nào, thuộc tháng nào, và ngày cuối năm dương lịch vẫn nằm trong năm âm cũ.
Bài này đi riêng vào phần ngày tháng của văn khấn: tên gọi từng ngày, từng tháng trong âm lịch, các cách ghi trang trọng hơn ở một số bản văn, tháng đủ tháng thiếu, và chuyện ghi ngày khi nhà cúng từ chiều hôm trước. Phần tên năm theo can chi và tháng nhuận được tách thành bài riêng trong cùng chuyên mục, vì mỗi phần đủ chuyện để nói.
Vì sao văn khấn ghi ngày âm mà không ghi ngày dương
Các dịp cúng lễ quen thuộc của người Việt gần như đều tính theo âm lịch: Tết Nguyên đán, rằm, mùng một, Thanh minh (tiết khí, nhưng nhiều nhà vẫn quy ra tháng Ba âm), Đoan ngọ, rằm tháng Bảy, ngày giỗ. Văn khấn sinh ra cùng nếp lịch ấy, nên câu "hôm nay là ngày…" mặc nhiên là ngày âm. Ghi ngày dương vào chỗ này không sai về nghĩa, nhưng đọc lên nghe lạc giọng với cả bài, và người lớn trong nhà thường sẽ nhắc.
Lý do thứ hai mang tính thực hành. Ngày giỗ của một người được giữ theo ngày âm của ngày mất; cùng một ngày giỗ, mỗi năm rơi vào một ngày dương khác. Nếu văn khấn ghi ngày dương, năm sau người khấn phải tự nhớ quy đổi; ghi ngày âm thì chỉ cần thay tên năm. Các sách văn khấn in ở Việt Nam đều để chỗ trống theo dạng "ngày … tháng … năm … âm lịch" vì vậy.
Cũng có nhà khấn thêm ngày dương cho rõ, kiểu "nhằm ngày … tháng … dương lịch". Không có quy định nào cấm. Nếu nhà bạn có nếp ấy thì cứ giữ; chỉ nên đọc ngày âm trước, ngày dương sau, để câu khấn vẫn theo khuôn quen. Người trẻ lần đầu khấn có thể ghi cả hai ra giấy nháp để đối chiếu, nhưng khi đọc thì chọn một cách cho gọn.
Tên gọi từng ngày trong tháng âm lịch
Một tháng âm có 29 hoặc 30 ngày. Cách đọc ngày trong văn khấn theo lối nói quen của người Việt:
| Ngày âm | Cách đọc trong văn khấn | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1 đến 10 | mùng Một, mùng Hai… mùng Mười (miền Bắc nhiều nơi nói "mồng") | Mùng Một còn gọi là ngày sóc |
| 11 đến 14 | ngày mười một, mười hai, mười ba, mười bốn | Mười bốn là ngày nhiều nhà cúng sớm cho rằm |
| 15 | ngày Rằm | Còn gọi là ngày vọng; trong văn viết trang trọng có khi ghi "ngày Rằm" viết hoa |
| 16 đến 20 | ngày mười sáu… ngày hai mươi | Đọc "hai mươi" hoặc "hôm hai mươi" theo vùng |
| 21 đến 29 | ngày hai mươi mốt… hai mươi chín (hoặc hăm mốt, hăm chín) | Văn khấn nên đọc đủ "hai mươi", không nói tắt |
| 30 | ngày ba mươi | Chỉ có ở tháng đủ; tháng thiếu ngày cuối là hai mươi chín |
Chữ "mùng" và "mồng" đều đúng, khác nhau theo thói quen vùng miền. Sách in ở miền Bắc hay dùng "mồng", lời nói ở miền Nam và nhiều nơi miền Trung dùng "mùng". Văn khấn đọc theo giọng nhà mình là tự nhiên nhất. Một số người viết tắt trên giấy nháp là "m1", "m10", khi đọc vẫn đọc đủ.
Hai chữ "sóc" và "vọng" là gốc Hán Việt của mùng Một và ngày Rằm. Bạn sẽ gặp chúng trong các bản văn cũ, như "lễ sóc vọng" để chỉ lệ cúng mùng Một và ngày Rằm. Trong văn khấn tiếng Việt hiện nay, đọc "mùng Một", "ngày Rằm" là đủ rõ.
Tên mười hai tháng âm lịch và cách đọc
Tháng Giêng. Tháng thứ nhất của năm âm lịch luôn gọi là tháng Giêng, không gọi "tháng Một". Văn khấn đầu năm hay viết "ngày mùng Một tháng Giêng" hoặc "ngày Rằm tháng Giêng".
Tháng Hai đến tháng Mười. Đọc theo số: tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư (không đọc "tháng Bốn"), tháng Năm, tháng Sáu, tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chín, tháng Mười. Tháng Tư là chỗ người mới hay đọc vấp vì quen nói "bốn" khi đếm.
Tháng Mười một. Tháng thứ mười một có nơi gọi là tháng Một (theo lối gọi cũ), nhưng để tránh nhầm với tháng Giêng, văn khấn hiện nay thường ghi rõ "tháng Mười một".
Tháng Chạp. Tháng thứ mười hai là tháng Chạp. Các lễ cuối năm như ông Công ông Táo hai mươi ba, tất niên, tạ đất, tạ mộ đều rơi vào tháng này. Ghi "tháng Chạp" chứ không ghi "tháng Mười hai" là cách quen thuộc nhất.
Tháng đủ và tháng thiếu. Tháng đủ có ba mươi ngày, tháng thiếu có hai mươi chín ngày. Không có quy luật xen kẽ cố định; phải xem lịch của năm đó. Chỗ này quan trọng khi ngày giỗ rơi vào ngày ba mươi mà năm nay tháng ấy chỉ có hai mươi chín ngày — nhiều nhà khi ấy làm giỗ vào ngày cuối tháng, tức hai mươi chín.
Tháng nhuận. Có năm âm lịch thêm một tháng nhuận, ví dụ năm Ất Tỵ 2025 nhuận tháng Sáu. Văn khấn đọc "tháng Sáu nhuận". Cách xử lý ngày giỗ, ngày rằm trong năm nhuận có bài riêng trong chuyên mục này.
Ngày cuối năm dương lịch vẫn thuộc năm âm cũ
Đây là lỗi điền văn khấn phổ biến nhất. Năm âm lịch bắt đầu từ mùng Một Tết, thường rơi vào cuối tháng Một hoặc trong tháng Hai dương lịch. Vì vậy:
- Ngày 1/1/2027 dương lịch là ngày hai mươi tư tháng Mười một năm Bính Ngọ, chưa phải năm Đinh Mùi.
- Ngày 25/1/2027 dương lịch là ngày mười tám tháng Chạp năm Bính Ngọ. Các lễ tạ đất, tạ mộ, tất niên trong khoảng này vẫn ghi năm Bính Ngọ.
- Mùng Một Tết Đinh Mùi rơi vào ngày 6/2/2027 dương lịch. Từ sáng hôm ấy văn khấn mới ghi "năm Đinh Mùi".
- Lễ giao thừa cuối năm Bính Ngọ diễn ra lúc chuyển sang mùng Một: nhiều bản văn khấn giao thừa ghi "đêm ba mươi tháng Chạp năm Bính Ngọ, sang ngày mùng Một tháng Giêng năm Đinh Mùi". Riêng năm này tháng Chạp là tháng đủ hay thiếu thì xem lịch; nếu tháng Chạp chỉ có hai mươi chín ngày thì "đêm ba mươi" được hiểu là đêm cuối tháng.
- Lịch treo tường và ứng dụng lịch trên điện thoại thường hiện cả tên năm âm. Hãy đọc tên năm ở ô ngày âm, đừng lấy theo năm in trên bìa lịch.
Mẹo kiểm nhanh: nếu hôm nay đã qua Tết âm lịch thì năm can chi đổi sang năm mới; nếu chưa qua Tết thì vẫn là năm cũ, bất kể lịch dương đã sang năm.
Cúng từ chiều hôm trước thì ghi ngày nào
Nhiều gia đình cúng rằm, mùng một từ chiều hôm trước, tức chiều mười bốn hoặc chiều ba mươi (hay hai mươi chín nếu tháng thiếu). Lý do thường rất đời thường: sáng hôm sau đi làm sớm, hoặc nếp nhà đã như vậy từ đời ông bà. Khi ấy văn khấn ghi ngày nào là câu hỏi hay gặp.
Theo cách ghi phổ biến, văn khấn nói rõ hai điều: hôm nay là ngày bao nhiêu, và lễ này là lễ của dịp nào. Ví dụ: "Hôm nay là ngày mười bốn tháng Bảy năm Bính Ngọ, nhân tiết Rằm tháng Bảy, tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa…". Cách viết này đúng với ngày thực tế đứng khấn và vẫn nêu đúng dịp. Một số nhà đọc thẳng "ngày Rằm tháng Bảy" dù cúng chiều mười bốn, coi đó là tên dịp lễ chứ không phải ngày đứng khấn. Cả hai cách đều gặp nhiều; quan trọng là cả nhà thống nhất một cách.
Lễ giỗ có chuyện tương tự: lễ tiên thường cúng hôm trước ngày giỗ chính. Văn khấn tiên thường thường nói "ngày mai là ngày giỗ của…", còn văn khấn ngày chính kỵ thì nói "hôm nay là ngày giỗ…". Bài văn khấn ngày giỗ đầy đủ đã có ở hệ, nên ở đây chỉ nhắc cách đặt chữ ngày.
Lễ giao thừa là trường hợp đặc biệt vì đứng giữa hai ngày, hai năm. Như đã nói ở trên, nhiều bản văn khấn ghi cả đêm cuối năm cũ lẫn ngày đầu năm mới trong cùng một câu.
Cách ghi ngày trang trọng trong một số bản văn
Ở các bản văn tế, sớ viết bằng chữ Hán hoặc phiên âm Hán Việt, phần ngày tháng có khuôn riêng. Bạn có thể gặp câu mở đầu dạng "Duy… tuế thứ (tên năm can chi), (tên tháng) nguyệt, (số ngày) nhật", nghĩa là "nay, năm…, tháng…, ngày…". "Tuế thứ" là "năm ở thứ tự…", "nguyệt" là tháng, "nhật" là ngày. Những bản này thường do người biết chữ Hán hoặc ban khánh tiết của họ, của làng soạn và đọc trong lễ lớn.
Văn khấn trong gia đình hiện nay hầu hết dùng câu tiếng Việt: "Hôm nay là ngày … tháng … năm … âm lịch". Không cần chuyển sang lối "tuế thứ" nếu bạn không quen; đọc sai âm Hán Việt còn khiến người nghe khó hiểu hơn. Nếu nhà có bản văn cũ theo lối ấy, giữ nguyên khuôn và chỉ thay phần tên năm, tên tháng, số ngày.
Một số bản ghi thêm can chi của tháng và của ngày, ví dụ "ngày Bính Thìn tháng Nhâm Dần năm Đinh Mùi". Đây thường là cách của văn khấn các lễ lớn như động thổ, cất nóc, cải táng. Cách tính can chi tháng và tra can chi ngày có bài riêng trong chuyên mục; với lễ thường ở nhà, ghi số ngày và tên tháng là đủ.
Quy trình điền ngày tháng trước mỗi lần khấn
Gói lại thành vài bước để không quên:
- Mở lịch có âm lịch (lịch treo tường, lịch bàn, ứng dụng trên điện thoại) và tìm đúng ngày định khấn, không phải ngày hôm nay nếu bạn chuẩn bị trước.
- Đọc ba thông tin trong ô ngày âm: số ngày, tên tháng (có chữ "nhuận" hay không), tên năm can chi.
- Viết ra giấy theo cách đọc: "ngày hai mươi ba tháng Chạp năm Bính Ngọ". Không viết số kiểu 23/12 để tránh đọc nhầm sang ngày dương.
- Nếu cúng chiều hôm trước, quyết định cách ghi theo nếp nhà: ghi ngày đứng khấn kèm tên dịp, hoặc ghi thẳng ngày của dịp lễ.
- Kiểm lại tên năm khi khấn trong khoảng từ đầu tháng Một đến trước Tết dương lịch năm sau: đây là khoảng dễ ghi nhầm năm mới.
- Đọc thử một lần thành tiếng trước khi thắp hương. Ngày tháng là phần duy nhất thay đổi mỗi lần khấn, nên đáng dành nửa phút.
Mâm cúng và lễ vật cho từng dịp là chuyện riêng, có bài ở các trang chuyên về lễ cúng; phần này chỉ lo cho chữ ngày tháng trong lời khấn được đúng và rõ.
Câu hỏi thường gặp
Văn khấn có bắt buộc đọc chữ "âm lịch" ở cuối câu ngày tháng không?
Không bắt buộc. Nhiều bản ghi "năm … âm lịch" để người điền khỏi nhầm, nhưng khi đọc có nhà bỏ chữ ấy vì ai cũng hiểu ngày trong văn khấn là ngày âm. Đọc hay không đọc đều phổ biến; giữ theo cách nhà bạn quen.
Ngày mùng Một nên đọc là "mùng một" hay "mồng một"?
Cả hai đều đúng. "Mồng" phổ biến trong sách in và lời nói nhiều vùng miền Bắc, "mùng" phổ biến ở miền Nam và nhiều nơi khác. Văn khấn đọc theo giọng tự nhiên của nhà mình, miễn rõ ràng.
Tháng mười hai âm lịch có được gọi là tháng Mười hai trong văn khấn không?
Có thể, người nghe vẫn hiểu. Tuy vậy cách gọi quen thuộc và trang trọng hơn là tháng Chạp. Tương tự, tháng thứ nhất gọi là tháng Giêng, không gọi tháng Một, để khỏi nhầm với tháng Mười một.
Ngày giỗ là ngày ba mươi nhưng năm nay tháng đó chỉ có hai mươi chín ngày thì sao?
Nhiều gia đình làm giỗ vào ngày cuối của tháng ấy, tức ngày hai mươi chín, và trong văn khấn đọc đúng ngày hai mươi chín. Có nhà theo ý trưởng họ chọn cách khác. Nên hỏi người lớn để cả họ thống nhất, tránh mỗi nhà một ngày.
Nhà ở miền Nam khấn có khác cách đọc ngày tháng so với miền Bắc không?
Khuôn chung giống nhau: ngày, tháng, năm âm lịch. Khác chủ yếu ở giọng đọc và vài chữ như "mùng" hay "mồng", "hăm" hay "hai mươi". Không có cách nào đúng hơn; đọc theo lối quen của gia đình là phù hợp.
Có cần ghi giờ khấn vào văn khấn không?
Văn khấn gia đình thường không ghi giờ. Một số bản văn cho lễ lớn như động thổ, cải táng có ghi giờ theo can chi, nhưng đó là phần do người chọn ngày giờ đưa ra. Với rằm, mùng một, giỗ, chỉ cần ngày, tháng, năm.