KhanCung.comKhấn Cúng
Điền văn khấn: ngày âm, can chi, tên tuổi, địa chỉ

Can chi của tháng và ngày trong văn khấn: khi nào cần ghi, cách tra cho đúng

Một số văn khấn lễ lớn ghi cả can chi của tháng và ngày. Cách tính can tháng theo can năm, vì sao can chi ngày phải tra lịch và lễ nào thật sự cần ghi.

Low angle view through a carved wooden doorway of a Ninh Binh ancestral hall, an elderly man in a dark ao dai seen from behind holding a folded blank paper, soft side light

Văn khấn ở nhà cho rằm, mùng một, giỗ thường chỉ cần ngày, tháng và tên năm. Can chi của tháng và của ngày chỉ hay xuất hiện ở văn khấn các lễ lớn như động thổ, cất nóc, cải táng, lễ ở đình họ, hoặc trong văn tế, sớ. Can chi tháng có quy tắc tính từ can của năm; can chi ngày không nhẩm được dễ dàng mà phải tra lịch.

Bài giải thích cả hai phần, kèm ví dụ cho năm Đinh Mùi 2027, để bạn đọc hiểu những dòng như "ngày Bính Thìn tháng Nhâm Dần năm Đinh Mùi" và điền được khi bản văn khấn của nhà có chỗ ấy. Bài không bàn ngày nào tốt, ngày nào xấu; chọn ngày là chuyện của trang chuyên về ngày giờ.

Vì sao có bản văn khấn ghi can chi cả ngày lẫn tháng

Trong lịch pháp truyền thống, không chỉ năm mà cả tháng, ngày, giờ đều có tên can chi. Các bản văn chữ Hán xưa như văn tế, sớ, câu ghi trên bia thường ghi đủ ba tầng năm, tháng, ngày theo can chi, vừa trang trọng vừa chính xác: số ngày âm lặp lại mỗi tháng, còn tên can chi của ngày sáu mươi ngày mới lặp lại một lần.

Văn khấn tiếng Việt in trong các sách phổ biến hiện nay đa số đã giản lược, chỉ để "ngày … tháng … năm … âm lịch". Một số bản cho lễ lớn vẫn giữ dạng "ngày … (can chi) tháng … (can chi)", có lẽ vì các lễ ấy gắn với việc chọn ngày, và người chọn ngày thường đưa sẵn tên can chi của ngày. Khi cầm một bản như thế, bạn có hai lựa chọn: điền đủ can chi, hoặc chỉ điền số ngày và tên tháng thông thường. Cả hai đều được nhiều gia đình dùng.

Cũng cần phân biệt can chi với tiết khí. Lịch in thường ghi thêm tên tiết khí như Lập xuân, Thanh minh, Đông chí ở một số ngày. Tiết khí là mốc theo Mặt Trời, không phải tên ngày; văn khấn chỉ nhắc tiết khí khi lễ gắn với tiết ấy, như lễ Thanh minh.

Nếu nhà bạn có bản văn khấn cũ do ông bà để lại, có ghi can chi tháng và ngày, hãy giữ khuôn ấy và học cách điền theo hướng dẫn dưới đây. Nếu không, không cần tự thêm vào văn khấn rằm, mùng một hay giỗ thường.

Can chi của tháng: địa chi cố định, thiên can theo năm

Địa chi của mỗi tháng âm không đổi qua các năm: tháng Giêng luôn là Dần, tháng Hai là Mão, cứ thế tới tháng Mười một là Tý và tháng Chạp là Sửu. Thiên can của tháng Giêng thì phụ thuộc can của năm, theo quy tắc lịch pháp quen gọi là "ngũ hổ độn" (năm cách tìm tháng Dần):

Can của nămTháng Giêng làVí dụ năm
Giáp hoặc KỷBính DầnGiáp Thìn 2024, Kỷ Dậu 2029
Ất hoặc CanhMậu DầnẤt Tỵ 2025, Canh Tuất 2030
Bính hoặc TânCanh DầnBính Ngọ 2026, Tân Hợi 2031
Đinh hoặc NhâmNhâm DầnĐinh Mùi 2027, Nhâm Tý 2032
Mậu hoặc QuýGiáp DầnMậu Thân 2028, Quý Sửu 2033

Biết tháng Giêng rồi thì các tháng sau đếm xuôi cả can lẫn chi. Năm Đinh Mùi 2027: tháng Giêng Nhâm Dần, tháng Hai Quý Mão, tháng Ba Giáp Thìn, tháng Tư Ất Tỵ, tháng Năm Bính Ngọ, tháng Sáu Đinh Mùi, tháng Bảy Mậu Thân, tháng Tám Kỷ Dậu, tháng Chín Canh Tuất, tháng Mười Tân Hợi, tháng Mười một Nhâm Tý, tháng Chạp Quý Sửu.

Tháng nhuận thường không có tên can chi riêng trong lịch in phổ thông; nhiều lịch để trống hoặc ghi theo tháng chính đứng trước. Nếu văn khấn của bạn rơi vào tháng nhuận và có chỗ ghi can chi tháng, cách đơn giản là ghi "tháng … nhuận" và bỏ can chi tháng.

Can chi của ngày: vì sao phải tra lịch

Can chi của ngày chạy liên tục theo chu kỳ sáu mươi ngày, không quay về đầu khi sang tháng mới hay năm mới. Vì tháng âm dài 29 hoặc 30 ngày, còn chu kỳ là 60, nên ngày mùng Một của các tháng có tên can chi khác nhau, không có quy luật dễ nhẩm. Người làm lịch tính bằng cách đếm số ngày từ một mốc đã biết.

Có công thức tính dựa trên số ngày Julius (cách đánh số ngày liên tục mà giới thiên văn dùng), nhưng với người điền văn khấn thì không cần. Lịch treo tường, lịch bàn và hầu hết ứng dụng lịch âm ở Việt Nam đều in sẵn tên can chi của ngày, thường ngay dưới hoặc cạnh số ngày âm, kèm can chi của tháng và năm.

Ví dụ để bạn đối chiếu với lịch: ngày mùng Một Tết Bính Ngọ (17/2/2026 dương lịch) là ngày Nhâm Tuất; ngày mùng Một Tết Đinh Mùi (6/2/2027) là ngày Bính Thìn. Nếu văn khấn lễ đầu năm 2027 của nhà bạn cần ghi đủ, câu ngày tháng sẽ là "ngày mùng Một, tức ngày Bính Thìn, tháng Giêng Nhâm Dần, năm Đinh Mùi".

Một lưu ý nhỏ: nhiều lịch tính ngày can chi đổi lúc nửa đêm, nhưng trong quan niệm cũ, giờ Tý (khoảng 23 giờ đến 1 giờ) đã thuộc ngày mới. Với lễ làm buổi tối khuya, nếu cần ghi can chi ngày, hãy hỏi người chọn ngày giờ xem họ tính theo cách nào.

Lễ nào thường ghi đủ can chi, lễ nào không cần

Theo các bản văn khấn hay gặp, có thể chia như sau. Đây là thói quen phổ biến, không phải quy định:

  • Thường chỉ ghi ngày, tháng, năm: rằm, mùng một, ngày giỗ, Tết, các lễ tiết trong năm, cúng Thần Tài, cúng đầy tháng.
  • Hay ghi thêm can chi ngày: động thổ, đổ móng, cất nóc, nhập trạch ở một số nhà, an vị bát hương, cải táng, xây sửa mộ. Lý do thường là ngày đã được chọn trước và người chọn ngày đưa sẵn tên can chi.
  • Ghi đủ ba tầng, kể cả giờ: văn tế, sớ, các lễ của dòng họ hay của làng do ban khánh tiết soạn bằng văn Hán Việt.
  • Lễ ở chùa: theo mẫu sớ của nhà chùa, không tự thêm; mỗi chùa một mẫu.
  • Khấn nôm: không cần can chi tháng và ngày; nói "hôm nay là ngày … tháng … âm lịch" là đủ.

Nếu bạn không chắc, ghi số ngày âm và tên tháng thông thường là cách an toàn nhất. Một văn khấn không có can chi ngày nhưng đọc rõ ràng vẫn trọn ý hơn một văn khấn có can chi nhưng ghi nhầm.

Điền một dòng ngày tháng đủ can chi

Lấy ví dụ giả định: gia đình làm lễ động thổ vào một ngày đã chọn trong tháng Hai năm Đinh Mùi 2027. Các bước:

  1. Xác định ngày âm của ngày làm lễ trên lịch, ví dụ ngày mười tám tháng Hai năm Đinh Mùi.
  2. Đọc trên chính ô lịch ấy tên can chi của ngày. Ghi nguyên, không tự đếm.
  3. Xác định can chi tháng: năm Đinh nên tháng Giêng là Nhâm Dần, tháng Hai là Quý Mão. Đối chiếu với lịch; lịch in thường ghi sẵn.
  4. Ghép thành câu: "Hôm nay là ngày mười tám, tức ngày (can chi đọc trên lịch), tháng Hai, tức tháng Quý Mão, năm Đinh Mùi". Có bản viết gọn "ngày (can chi) tháng Quý Mão năm Đinh Mùi".
  5. Nếu người chọn ngày đã ghi sẵn giờ làm lễ theo can chi, chép đúng như họ ghi; không tự quy đổi.
  6. Đọc thử một lần. Tên can chi là chữ Hán Việt ngắn, đọc vấp rất dễ nhận ra; đọc chậm từng cặp là được.

Mâm lễ, lễ vật cho động thổ là phần của các trang chuyên về lễ cúng; văn khấn động thổ có bài riêng trong chuyên mục xây sửa nhà của trang này. Ở đây chỉ bàn chữ ngày tháng.

Những chỗ hay ghi nhầm

Lấy can chi của năm ghép cho tháng. Ví dụ ghi "tháng Đinh Mùi" cho tháng Giêng năm 2027. Tháng Giêng năm Đinh là Nhâm Dần; tháng Sáu năm ấy mới trùng tên Đinh Mùi.

Đếm can chi ngày từ mùng Một. Một số người tưởng mùng Một tháng nào cũng là ngày Giáp Tý. Không đúng; tên ngày chạy liên tục, phải tra lịch.

Nhầm can chi ngày của dương lịch và âm lịch. Tên can chi gắn với ngày thực, không đổi theo cách ghi lịch. Ngày 6/2/2027 dương lịch và mùng Một Tết Đinh Mùi là cùng một ngày, cùng tên Bính Thìn.

Chép nhầm dòng trên lịch. Lịch bàn thường in nhiều dòng chữ nhỏ: can chi ngày, tháng, năm, tiết khí, giờ hoàng đạo. Ghi nhầm can chi tháng vào chỗ can chi ngày là lỗi phổ biến. Đọc kỹ nhãn từng dòng.

Dùng can chi của ngày hôm trước khi cúng từ chiều. Nếu lễ làm chiều hôm trước ngày đã chọn mà văn khấn vẫn ghi can chi của ngày đã chọn, hãy thống nhất cách đọc như với số ngày: hoặc đọc ngày thật đứng khấn, hoặc đọc ngày của dịp lễ. Đừng trộn số ngày của hôm nay với can chi của hôm sau.

Đọc đúng âm các chữ can chi

Các chữ can chi là âm Hán Việt, có vài chữ dễ đọc chệch hoặc có hai cách viết. Bảng dưới gom những chữ người mới hay hỏi:

ChữCách đọc, cách viếtLưu ý
MậuMậu (dấu nặng)Không đọc thành "Mẫu"; Mậu là can thứ năm
KỷKỷ hoặc KỉHai cách viết đều gặp, cùng một chữ
TỵTỵ hoặc TịHai cách viết đều gặp, cùng một chữ
MãoMão, có vùng đọc MẹoKhi viết nên dùng Mão
ThânThânChi thứ chín; trong văn khấn không đọc là "con khỉ"
QuýQuý hoặc QuíCan thứ mười, đứng trước Giáp của vòng sau

Những khác biệt về i và y, về giọng vùng miền không ảnh hưởng gì tới văn khấn. Điều cần là đọc rõ, người đứng sau nghe được và nhận ra đúng tên ngày, tên tháng.

Nếu bạn soạn tờ văn khấn cho cả nhà dùng, chọn một cách viết rồi giữ thống nhất trên mọi tờ, để người đọc sau không băn khoăn vì sao tờ này viết Tỵ, tờ kia viết Tị.

Câu hỏi thường gặp

Ngũ hổ độn có phải là cách xem ngày tốt xấu không?

Không. Đó chỉ là quy tắc đặt tên can chi cho tháng Giêng dựa vào can của năm, thuộc phần lịch pháp. Việc dùng can chi để đoán tốt xấu là chuyện khác, không liên quan đến cách điền văn khấn.

Văn khấn rằm có bản ghi can chi ngày, có nên dùng?

Dùng được nếu bạn tra đúng trên lịch. Nhưng với rằm, mùng một, phần lớn sách văn khấn chỉ ghi số ngày và tháng. Nếu thấy mất công hoặc sợ nhầm, bạn có thể bỏ phần can chi ngày mà không ảnh hưởng gì đến ý của bài khấn.

Can chi tháng Mười một và tháng Chạp có thuộc năm sau không?

Không. Tháng Mười một và tháng Chạp vẫn thuộc năm âm đang chạy, nên can được đếm tiếp từ tháng Giêng của chính năm đó. Năm Bính Ngọ 2026, tháng Mười một là Canh Tý, tháng Chạp là Tân Sửu.

Có cần ghi can chi giờ trong văn khấn động thổ không?

Chỉ khi bản văn khấn nhà bạn dùng có chỗ ấy và người chọn giờ đã đưa sẵn tên giờ. Văn khấn gia đình thông thường không ghi giờ. Đừng tự quy đổi giờ đồng hồ sang can chi giờ nếu không chắc.

Lịch in và ứng dụng ghi can chi ngày khác nhau thì sao?

Tên can chi ngày ở các lịch Việt Nam phải trùng nhau vì cùng một chu kỳ liên tục. Nếu lệch, kiểm xem bạn có đang nhìn nhầm ngày, hay ứng dụng dùng lịch nước khác. Ưu tiên lịch in trong nước và hỏi người chọn ngày.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183