Một tờ văn khấn in sẵn tốt cho cả nhà có ba phần: phần cố định (lời kính lạy, câu kết) giữ nguyên theo bản nhà mình dùng; phần thay đổi theo dịp (ngày tháng, tên dịp, lời nêu dịp) để trống hoặc in đậm cho dễ thay; và một bảng thông tin gia đình đi kèm (họ tên, địa chỉ, ngày giỗ các cụ). Có tờ như vậy, ai trong nhà cũng đứng khấn được khi cần.
Bài hướng dẫn cách soạn từ bản văn khấn có sẵn của gia đình hoặc sách văn khấn phổ biến, cách trình bày cho dễ đọc, cách giữ sổ ngày giỗ đi kèm và việc cần sửa mỗi Tết. Bài không đưa ra một bản văn khấn "chuẩn"; nội dung các bài khấn theo từng dịp có ở các chuyên mục khác của trang.
Vì sao nên có một tờ khấn chung của gia đình
Ở nhiều nhà, chỉ một người thuộc văn khấn, thường là ông hoặc bố. Đến khi người ấy đi xa, ốm, hoặc tuổi cao không còn đứng lâu được, cả nhà mới lúng túng tìm bài trên mạng, mỗi người một bản. Bản trên mạng có khi khác hẳn cách ông bà vẫn khấn, có khi lẫn những câu doạ, câu hứa không có trong văn khấn cổ truyền.
Một tờ khấn chung giữ được nếp riêng của nhà: những vị được kính mời theo thứ tự quen, cách gọi gia tiên, tên làng cũ. Nó cũng giúp người trẻ tập khấn mà không sợ sai, vì mọi chỗ cần điền đã được đánh dấu rõ.
Tờ khấn chung còn là một tư liệu gia đình. Sau vài chục năm, tờ giấy có ghi chú tay của ông, của bố về cách đọc từng chữ là thứ con cháu giữ lại như kỷ vật. Vì thế, nhiều gia đình soạn cẩn thận một lần, rồi in lại khi cần sửa.
Soạn tờ khấn từ bản có sẵn
Bắt đầu từ bản gia đình đang dùng, hoặc một bản phổ biến trong sách văn khấn cổ truyền nếu nhà chưa có bản riêng:
- Chép nguyên văn bản đang dùng, kể cả những câu khác sách. Đó là dị bản của nhà mình, nên giữ.
- Nhờ người lớn đọc lại, đánh dấu những chỗ ông bà vẫn đọc khác chữ in. Sửa theo cách đọc thật của nhà.
- Tách ba loại câu: câu cố định (kính lạy, câu kết), câu thay theo dịp (ngày, tháng, tên dịp, lời nêu dịp), và câu thay theo người (tên người khấn, người được giỗ).
- Câu thay theo dịp và theo người để dạng có ngoặc: (họ tên), (ngày … tháng … năm …), (tên dịp). Không điền sẵn tên năm vào bản gốc, để dùng được nhiều năm.
- Ghi ở cuối tờ một dòng nhỏ: bản này chép từ đâu, ai đã duyệt, ngày soạn. Sau này có người hỏi vì sao nhà mình khấn khác sách, dòng ấy trả lời.
- In thử, đọc thử thành tiếng một lần. Chỗ nào vấp thì sửa ngắt dòng.
Nếu nhà chưa có bản riêng, chọn một bản phổ biến cho dịp hay dùng nhất, thường là rằm, mùng một. Đừng gom nhiều nguồn rồi ghép thành một bản dài; mỗi bản phổ biến vốn đã trọn ý.
Trình bày cho dễ đọc
Cỡ chữ lớn. Người lớn tuổi đọc trong ánh nến, ánh đèn thờ, nên chữ cần to hơn chữ sách thường, ví dụ cỡ 16 đến 18. Khoảng cách dòng rộng.
Ngắt dòng theo hơi đọc. Mỗi dòng là một cụm đọc liền: "Con kính lạy / Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần." Không để câu kéo dài qua nhiều dòng giữa chừng.
Đánh dấu chỗ thay đổi. Phần thay đổi in đậm hoặc gạch chân, để người khấn liếc qua là biết chỗ phải tự đọc theo thông tin hôm nay.
Chú thích chữ khó. Chữ Hán Việt hay đọc vấp có thể chú nghĩa nhỏ bên lề. Không chèn chú thích vào giữa câu khấn, để khi đọc không bị lẫn.
Mỗi dịp một tờ. Rằm – mùng một, giỗ, Tết, các lễ cuối năm nên mỗi dịp một tờ riêng, ghi tên dịp ở góc trên. Gộp tất cả vào một tờ dài dễ đọc nhầm đoạn.
Giấy dày, bọc nhựa. Tờ dùng thường xuyên nên in giấy dày hoặc bọc nhựa trong, để không ố vì khói hương. Cất trong ngăn kéo gần bàn thờ, không đặt lên mặt bàn thờ, tránh gần nến.
Bảng thông tin gia đình đi kèm tờ khấn
Phần quan trọng không kém tờ khấn là một bảng thông tin để người khấn tra khi điền. Mẫu bảng gợi ý, các ô là ví dụ giả định:
| Mục | Nội dung cần ghi | Khi nào cập nhật |
|---|---|---|
| Người đứng khấn chính | Họ tên, quan hệ trong nhà | Khi thay người lo việc cúng |
| Địa chỉ | Số nhà, thôn hoặc đường, xã hoặc phường, tỉnh hoặc thành phố theo tên hiện hành | Khi chuyển nhà hoặc đổi địa giới |
| Thành viên trong nhà | Họ tên, năm sinh can chi, tuổi âm năm nay | Mỗi Tết, khi có thêm người |
| Các ngày giỗ | Quan hệ, họ tên, ngày mất âm lịch (ghi chú nếu tháng nhuận), tuổi lúc mất, nơi an táng | Khi có thông tin mới |
| Tên năm hiện tại | Tên năm can chi, ngày Tết dương lịch của năm | Mỗi Tết |
| Nếp riêng của nhà | Cúng sáng hay chiều hôm trước, ai đứng khấn khi vắng chủ hộ | Khi gia đình bàn lại |
Bảng này giúp người mới khấn khỏi phải hỏi từng câu. Đặc biệt mục "các ngày giỗ" nên có thêm một cột ghi ngày dương lịch tương ứng của năm nay, để cả nhà sắp xếp đi lại.
Những ai cần sắm thêm đồ thờ khi soạn lại góc thờ cúng có thể xem thêm đồ thờ, vật phẩm có mô tả rõ ràng trên Vật Phẩm Phong Thủy; tờ khấn và sổ giỗ thì tự gia đình soạn là hợp nhất.
Khung một tờ khấn với chỗ điền đánh dấu
Dưới đây là khung trình bày, không phải bài văn khấn. Phần trong ngoặc là chỗ gia đình điền theo bản văn khấn nhà mình dùng hoặc theo thông tin hôm nay:
- Góc trên: tên dịp (ví dụ: rằm và mùng một), nguồn bản văn (sách hoặc bản của ông bà), ngày soạn.
- Dòng mở đầu: (câu niệm nếu nhà có dùng, đọc mấy lần).
- Phần kính lạy: (các vị được kính mời, theo đúng thứ tự trong bản của nhà) — phần cố định, in thường.
- Phần trình: Tín chủ con là (họ tên), ngụ tại (địa chỉ); dòng trống cho câu khấn thay nếu cần.
- Phần ngày tháng: Hôm nay là ngày (…) tháng (…) năm (…) âm lịch.
- Phần nêu dịp và lễ vật: (câu theo bản của nhà cho dịp này) — phần thay đổi theo dịp, in đậm tên dịp.
- Phần cầu xin và kết: (câu kết theo bản của nhà) — phần cố định.
- Mặt sau: một bản khấn nôm ngắn cho cùng dịp, và bảng chú nghĩa chữ khó.
Nhìn vào khung, người khấn thấy ngay chỉ có ba chỗ in đậm cần chú ý: tên, địa chỉ, ngày tháng. Mọi phần khác đọc theo bản đã có. Đó chính là mục đích của một tờ khấn in sẵn: giảm việc phải nghĩ khi đứng trước bàn thờ, để người khấn tập trung vào sự thành kính.
Khi soạn tờ cho dịp giỗ, phần trình có thêm các ô về người được giỗ: quan hệ, họ tên, ngày mất, tuổi lúc mất, nơi an táng. Những ô này điền sẵn từ bảng thông tin gia đình, mỗi người một tờ hoặc một dòng.
Mặt sau tờ khấn: bản khấn nôm cho người mới
Không phải ai trong nhà cũng đọc trơn được văn khấn cổ truyền. Một cách nhiều gia đình dùng là in ở mặt sau tờ khấn một bản khấn nôm ngắn cho cùng dịp, theo năm ý quen thuộc: gọi người mình kính lạy, nói mình là ai và ở đâu, hôm nay là dịp gì, mình đã chuẩn bị gì, điều mong và lời cảm tạ.
Bản khấn nôm in sẵn giúp người trẻ, con dâu mới về nhà, cháu ở xa về chơi có thể tự thắp hương mà không ngại. Nó cũng là "lối thoát" khi người khấn chính quên chỗ đang đọc: chuyển sang khấn nôm vài câu rồi kết, lời khấn vẫn trọn ý.
Giữ bản khấn nôm thật ngắn, chỉ năm sáu câu. Tránh thêm những lời xin cụ thể theo kiểu danh sách; mỗi lần khấn, người khấn tự nói thêm điều mình mong bằng lời của mình.
Lưu trên điện thoại: tiện nhưng cần vài lưu ý
Nhiều người trẻ lưu văn khấn trong ghi chú điện thoại. Cách này tiện: sửa nhanh, gửi cho anh chị em ở xa trong vài giây, không sợ mất giấy. Khi lưu, giữ đúng ngắt dòng và chữ in đậm như bản giấy, đặt tên tệp theo dịp để tìm nhanh.
Khi đọc từ điện thoại trước bàn thờ, nên bật chế độ không làm phiền, giảm độ sáng màn hình, cầm máy ngang ngực. Tránh để thông báo tin nhắn hiện lên giữa lúc khấn. Nhiều người cũng thấy đọc từ giấy trang trọng hơn trong các lễ lớn như giỗ, Tết, còn điện thoại để dành cho rằm, mùng một.
Bản điện thoại nên có một bản sao lưu dùng chung của gia đình, để khi một người sửa thì những người khác đều có bản mới. Nhưng bản giấy có chữ ký duyệt của người lớn vẫn nên giữ làm gốc.
Việc cần làm mỗi dịp Tết
Tết là lúc thuận để rà lại tờ khấn và bảng thông tin. Danh sách ngắn để cả nhà cùng làm trong một buổi:
- Sửa tên năm ở các ví dụ có sẵn, nếu tờ có ghi ví dụ.
- Cộng một tuổi âm cho mọi người trong bảng thành viên.
- Thêm người mới: em bé, dâu, rể. Ghi năm sinh can chi đã tra đúng.
- Kiểm năm nay có tháng nhuận không, đánh dấu các ngày giỗ bị ảnh hưởng.
- Ghi ngày dương lịch của các ngày giỗ trong năm, gửi cho người ở xa.
- Rà địa chỉ: có đổi tên xã, phường không, có chuyển nhà không.
- In lại tờ đã sờn, cất bản cũ vào phong bì cùng sổ của gia đình.
Mỗi năm một buổi như thế mất chưa đến một giờ, mà cả năm khỏi phải gọi điện hỏi nhau từng ngày giỗ. Nhiều gia đình làm việc này vào một ngày cuối tháng Chạp, khi cả nhà cùng dọn dẹp bàn thờ.
Câu hỏi thường gặp
Có nên in luôn tên người khấn vào tờ văn khấn không?
Có thể, nếu nhà chỉ một người đứng khấn cố định. Nhưng để chỗ trống thì ai trong nhà cũng dùng được tờ ấy. Cách dung hoà là in tên chủ hộ, kèm một dòng để trống cho câu khấn thay khi người khác đứng khấn.
Tờ khấn tự soạn có cần ai "duyệt" không?
Không có quy định nào. Nhưng nhờ người lớn trong nhà đọc lại giúp giữ được nếp riêng và tránh sai chữ. Với văn khấn ở chùa, đình, hãy theo mẫu của nơi ấy thay vì dùng tờ tự soạn.
Có nên chép những bản văn khấn dài trên mạng vào tờ của nhà không?
Nên thận trọng. Nhiều bản trên mạng ghép nhiều nguồn, có câu không có trong sách văn khấn cổ truyền, thậm chí có lời doạ. Chọn bản ngắn, rõ, đúng khuôn kính lạy, trình, nêu dịp, kết là đủ.
Đặt tờ văn khấn lên bàn thờ có được không?
Nhiều nhà không đặt giấy tờ lên mặt bàn thờ, vừa để giữ bàn thờ gọn, vừa tránh cháy khi thắp nến. Cất tờ khấn trong ngăn kéo hoặc hộp gần đó, khi khấn thì cầm trên tay.
Tờ khấn cũ, sờn rách thì xử lý thế nào?
Nhiều gia đình giữ lại bản cũ có chữ tay của ông bà như kỷ vật. Bản in thường không cần nghi thức gì; có nhà hoá cùng vàng mã cuối năm, có nhà cất đi. Tuỳ nếp nhà.